Công trình như nấm sau mưa

Sau một thời gian dài bị cấm đoán, khó khăn trong việc xây dựng các công trình tôn giáo như nhà thờ, nhà xứ… những năm qua, sau khi được “cởi trói”, phong trào xây dựng nhà thờ, nhà xứ và các công trình tôn giáo, nhất là Công giáo đã diễn ra rầm rộ trong nam, ngoài bắc… đặc biệt là ở các giáo phận miền Bắc.Điều đó như là một lẽ đương nhiên: Sau mấy chục năm chiến tranh, các công trình bị hư hại nặng do thời tiết khắc nghiệt, do chiến tranh và con người góp phần phá hoại, lại không được tu sửa, nâng cấp.

Mặt khác, thời gian đã qua, những ngôi nhà thờ từ khi được xây dựng đến nay đã có thời gian ngót nghét một thế kỷ, nhiều điều kiện về sử dụng, diện tích, độ an toàn của công trình đã không đáp ứng được nhu cầu sử dụng của đông đảo lượng giáo dân ngày càng tăng.

Cũng có một yếu tố khác, đó là sau mấy chục năm với nền kinh tế kế hoạch bao cấp đầy rẫy những khó khăn thiếu thốn. Đến khi được “cởi trói”, đời sống nhân dân như một bản năng mãnh liệt của cuộc sống được dịp trỗi dậy và đã có những bước tiến ngoạn mục khi Việt Nam hội nhập với thế giới, nền kinh tế thị trường. Do vậy điều kiện vật chất cũng đã đáp ứng được phần nào nhu cầu của việc xây cất, thờ phụng.

Một nguồn lực quan trọng khác nữa, là những người Việt hiện sống ở nước ngoài xuất thân từ các xứ họ, các giáo phận trong nước, sau một thời gian định cư ở nước ngoài xa cách với nỗi canh cánh trong lòng về quê hương xứ sở, nơi chôn rau cắt rốn. Nay họ đã có cuộc sống kinh tế cao hơn đã không quên cội nguồn, đã gom góp để xây dựng quê hương, xây dựng lại những Thánh đường đàng hoàng, to đẹp hơn như những nghĩa cử của người xa xứ với cội nguồn của mình.

Do vậy, nơi nơi, các xứ họ, các giáo phận đã rầm rộ một phong trào “trăm hoa đua nở” trong việc xây dựng lại các Thánh đường, các công trình tôn giáo.

Lớn hơn, đẹp hơn hoàng tráng hơn

Nếu bạn đi một vòng từ Nam đến Bắc, qua những vùng đông giáo dân sẽ thấy nổi bật trên nền trời xanh là những ngọn tháp cao ngạo nghễ, những Thánh đường to, rộng đang được cấp tập xây dựng như một phong trào, làm nức lòng giáo dân sở tại, làm ấm lòng những giáo hữu tha phương.

Những Thánh đường với muôn vẻ kiến trúc như những minh chứng hùng hồn cho lòng tin mãnh liệt và phong phú của người Công giáo Việt Nam, vượt lên hoàn cảnh, vượt lên khó khăn, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, của xã hội, vẫn không ngừng phát triển.

Những điều bất cập

Những Thánh đường Công giáo mọc lên như những niềm tự hào của các tín hữu với lòng tin kiên định, sắt son của mình vào Thiên Chúa. Vậy nhưng tình trạng hiện tại của việc xây dựng các Thánh đường Công giáo, các công trình tôn giáo nói chung vẫn có nhiều điều đáng để chúng ta suy nghĩ.

Là người đã từng tham gia thiết kế khá nhiều công trình cho các Giáo phận, trong tôi luôn có những suy nghĩ: Đó là công việc chung của mọi tín hữu, mọi Giáo dân và các đấng bậc trong Giáo Hội đều phải chăm lo như lo lắng cho chính ngôi nhà của mình.

Việc xây dựng các Thánh đường và công trình tôn giáo nói chung hiện nay đang ồ ạt theo kiểu “phong trào”. Có nơi nhà thờ cũ, hỏng, phá đi xây nhà thờ mới, có nơi nhà thờ lớn, phá đi xây lại lớn hơn. Việc trùng tu, bảo tồn là ít thấy dù công trình đó có một giá trị văn hóa, lịch sử trải qua cả trăm năm, cũng như có những công trình được đúc kết bằng tinh hoa văn hóa của dân tộc, của cha ông, nhưng sau bao năm bị bào mòn bởi thời gian, bị xuống cấp không được tu sửa, nay bỗng nhiên trở thành phế thải và đập đi để xây lại.

Tôi từng đến một ngôi Thánh đường bằng gỗ, tường xây bao quanh được thiết kế thi công công phu, tỉ mỉ. Những hoa văn sơn son thếp vàng, những chi tiết kiến trúc nhuần nhuyễn, mang đậm tính nhân văn tôn giáo của từng thời kỳ lịch sử mà thời đại ngày nay và mãi mãi chắc khó lòng xây dựng được. Nhưng nó sắp bị phá đi để xây lại một ngôi nhà thờ lớn hơn bằng bê tông cốt thép. Theo chúng tôi, đó chưa hẳn đã là điều hay.

Rất nhiều công trình xây dựng theo ngẫu hứng, theo kinh nghiệm là chính bất chấp kỹ thuật và nghệ thuật kiến trúc. Rất nhiều Thánh đường đã được xây dựng theo ý chủ quan của Cha xứ, Ban Hành Giáo hoặc người tài trợ mà bất chấp một thực tế là lãng phí rất nhiều tiền của một cách vô lý. Nhiều ngôi Thánh đường và công trình tôn giáo đã được giao cho những người không có chuyên môn, kỹ thuật về kiến trúc, xây dựng để thiết kế và thi công, thậm chí có nhiều Thánh đường được xây dựng theo kiểu “học mót”. Hễ thấy một chi tiết vui mắt ở đâu đó thì bê nguyên về, bất chấp tính logic và ngôn ngữ kiến trúc.

Rất nhiều Thánh đường được xây dựng theo kiểu tiết kiệm, có đến đâu, làm đến đó không cần thiết kế, chẳng cần chuyên môn, chỉ cần giao cho một tốp thợ tự biên tự diễn theo ý Cha xứ và ban kiến thiết. Bởi chưng, thuê thiết kế, khảo sát… tốn một số chi phí nào đó. Nhưng họ đã không biết rằng, những công trình không được xây dựng theo đúng quy trình kỹ thuật một cách khoa học, thì sự lãng phí đối với công trình còn lớn hơn gấp nhiều lần chi phí đó, ngoài ra, nguy cơ nứt nẻ, hư hỏng, sụp đổ bất cứ lúc nào, chi phí sửa chữa, làm lại là một con số lớn hơn rất nhiều lần. Ngoài ra, nếu chẳng may công trình sụp đổ khi đang thi công hoặc sử dụng với đông người, hậu quả sẽ là không nhỏ, và khi đó, ai là người chịu trách nhiệm?.

Thực tế, trong con mắt Giáo dân Việt Nam nói chung, Linh mục là người được tôn trọng hết sức, mọi lời nói, việc làm của Linh mục là chuẩn mực, là đúng đắn. Điều đó thể hiện sự kính trọng các đấng bậc, là một truyền thống rất tốt đẹp của Người Công giáo Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều khi, chính các vị Linh mục, cũng có ảo giác rằng: Giữa đám dân quê, mọi ý kiến của mình, hiểu biết của mình là chân lý, mọi quyết định của mình là sáng suốt. Do vậy, công tác xây cất các công trình, nhiều vị cũng bất chấp những vấn đề về kỹ thuật và nguyên tắc khoa học, tự nêu ý tưởng, tự xây, tự làm bằng những ý tưởng của mình mà không nghĩ rằng: Mọi lĩnh vực cần có những quy luật chuyên môn của nó.

Để có những Thánh đường to đẹp, rộng rãi làm vinh danh Thiên Chúa trong các sinh hoạt tôn giáo và văn hóa hàng ngày, người Công giáo Việt Nam đã chắt chiu từng đồng tiền, bát gạo, hi sinh rất nhiều công, của, bằng mồ hôi nước mắt khó nhọc của mình làm ra. Chúng tôi đã chứng kiến nhiều giáo dân cả chục năm trời hi sinh mọi công việc gia đình, cá nhân, đề lo lắng cho việc xây dựng Thánh đường. Những người con xa xứ đã không tiếc công sức, đã gom góp tiền của để gửi về góp sức chung tay xây dựng nên những công trình đáng tự hào đó.

Nhưng trong thực tế, việc xây dựng ở nhiều nơi, nhiều chỗ đã lãng phí cách này hay cách khác.

Chúng tôi cũng đã đến nơi xây dựng ngôi Thánh đường được người dân ở đó cho là tốn kém nhất, nhiều tiền của nhất khu vực miền Bắc… Toàn bộ công trình từ móng đến tường, mái là một khối bê tông khổng lồ. Tất cả các chi tiết thi công từ ván khuôn, dàn giáo đến quy trình thi công nhất nhất tuân theo những quy định và phương pháp “không giống ai” trong nền xây dựng Việt Nam hiện tại. Một công trình tốn kém khủng khiếp, nếu theo tư duy xây dựng Việt Nam hiện nay. Theo những phép tính đơn giản, ngôi nhà thờ này, kinh phí đắt gấp năm bảy lần những ngôi nhà thờ khác cùng diện tích sử dụng.

Khi được hỏi “Những quy định đó do ai đưa ra, người dân đều trả lời “Do người tài trợ quyết định”. “Nhưng tại sao phải theo những quyết định không giống ai đó?” thì được trả lời: “Nếu không nghe, họ cắt tài trợ cho công trình”.

Khi ra về chúng tôi không khỏi những băn khoăn. Phải chăng khi có tiền, bất cứ người nào cũng có thể chi tiền để xây dựng Thánh đường với những “ý tưởng” không giống ai, dù nó tốn kém như cách tiêu tiền của “Công tử Bạc Liêu” trong tiểu thuyết để rồi buộc những người dân bản địa phải chấp nhận?

Thiết nghĩ, với người tài trợ, nếu như số tiền khổng lồ kia được chia cho những nơi hiện đang mong một ngôi Thánh đường tạm để thay cho những ngôi Thánh đường bằng tranh tre nứa lá ở khu vực Tây Bắc của đất nước, thì biết bao giáo dân đã không quá vất vả khi dâng lễ trong nắng mưa, bão táp. Và số tiền ấy được dùng những mục đích có ích hơn, hẳn công lao của người làm nên những đồng tiền ấy là không nhỏ.

Còn với Cha xứ cũng như giáo dân nơi xây dựng ngôi Thánh đường đó, nếu họ nghĩ rằng: Thánh đường là của Chúa, của Giáo hội, của tất cả mọi người, không của riêng ai, nên không thể chấp nhận những sự vô lý, lãng phí quá mức khi buộc phải bằng lòng làm theo người có tiền. Chúng ta có thể vất vả hơn, làm ngôi Thánh đường nhỏ hơn, để những đồng tiền đó cho những công việc có ý nghĩa hơn trong công việc chung của Giáo hội Hoàn cầu.

Và hệ lụy

Với người Công giáo, Thánh đường là nơi trung tâm sinh hoạt tôn giáo. Thánh đường càng to, càng đẹp, thì người Công giáo càng hãnh diện và tự hào. Nhưng nhiều khi chúng ta quên mất một điều rằng: Thánh đường đẹp đẽ nhất cho Thiên Chúa ngự, chính là tâm hồn mỗi người.

Để xây dựng những Thánh đường nguy nga, lộng lẫy, trước hết cần một tinh thần. Tinh thần của người Công giáo Việt Nam với Thiên Chúa, với Giáo Hội thật là to lớn, điều đó đã được chứng minh qua những năm tháng khó khăn ngặt nghèo đã qua. Nhưng tất nhiên, để xây dựng những công trình to lớn, đi kèm theo tinh thần là chi phí cho vật liệu, nhân công và tiền của cũng lớn theo quy mô của nó. Trong khi những người dân Việt Nam nói chung là những người đang nằm trong một nền kinh tế nghèo đói nói chung. Việc xây dựng những công trình quá lớn, nảy sinh những điều bất cập và hệ lụy không phải không có ảnh hưởng.

Nhiều nơi, để xây dựng Thánh đường và các công trình tôn giáo, các giáo xứ, giáo phận đã phải dùng rất nhiều dự án xin tài trợ của các tổ chức và cá nhân cho việc phục vụ tha nhân, phục vụ cộng đồng… như giáo dục, y tế, các vấn đề xã hội… Nhưng khi có được những đồng tiền đó, đã không sử dụng đúng mục đích của dự án đã nêu mà dùng cho việc xây dựng các Thánh đường nguy nga lộng lẫy. Phải chăng, điều đó là bình thường với người Công giáo, khi chúng ta phải nêu những tấm gương về Sự thật và làm chứng cho Sự thật. Việc biến các dự án khác cho xây dựng Thánh đường, phải chăng là không có vấn đề gì? Theo chúng tôi, ít nhất điều đó đã là sự dối trá khó có thể chấp nhận dù với một ý tưởng và mục đích tốt.

Ngoài ra, với phong trào chung, nơi nơi xây dựng Thánh đường, các linh mục đua nhau xây dựng nhiều, to lớn, đẹp… đó là điều tốt. Nhưng để thực hiện điều đó, có nhiều khi đã phải chấp nhận nhiều điều không bình thường.

Trước hết là việc “xin phép”. Cần phải nói rõ rằng: Việc xây cất các công trình tôn giáo là một nhu cầu chính đáng của cộng đồng Công giáo. Việc cấp phép là điều đương nhiên các cấp chính quyền của dân phải làm khi có lý do chính đáng, nhất là nơi tập trung đông người như Thánh đường, nhà chung…

Thời đại hiện nay, mọi người sống theo Hiến Pháp và Pháp luật như hệ thống chính trị xã hội yêu cầu. Thế nhưng, nhiều nơi vẫn làm chui, làm lén khi đi làm những thủ tục cấp phép, tạo điều kiện cho những quan chức nhà nước tham nhũng, nhận hối lộ để thực thi phận sự của mình. Nhiều nơi, xin phép một đường, làm một nẻo. Thậm chí, ngay cả khi có thiết kế, vẫn tự ý thay đổi theo ngẫu hứng của những người không có chuyên môn nhưng có quyền hoặc có tiền.

Như vậy, chính chúng ta đã tự trói mình bằng những việc làm sai trái. Cần phải hiểu được điều này: Việc cấp phép phù hợp với quy mô, tiêu chuẩn của những công trình văn hóa, công cộng là điều đương nhiên các cơ quan thi hành pháp luật phải thực hiện, nếu không muốn người dân tự phát vô tổ chức. Việc tuân thủ những nguyên tắc pháp luật trong công tác quản lý chất lượng công trình là điều bắt buộc và có lợi cho chính chúng ta.

Việc xây cất những Thánh đường, các công trình văn hóa tôn giáo cũng là một phần không nhỏ góp phần xây dựng bộ mặt quê hương, đất nước ngày càng phát triển.

Thứ hai là vấn đề kinh phí: Rất nhiều nơi, khi xây dựng Thánh đường, đã không lường trước được quy mô và khả năng, dẫn đến công tình kéo dài hàng chục năm không thể hoàn thiện, nhiều nơi cứ luôn luôn thay đổi theo ý chủ quan, khiến cho công trình trở nên chắp vá và không theo một quy hoạch chi tiết, làm công trình này lại phá công trình kia… gây lãng phí lớn trong quá trình xây dựng.

Nhiều nơi, không có cả thiết kế và hệ thống quản lý kinh tế, kỹ thuật chặt chẽ, để đảm bảo cho công trình được an toàn, tiết kiệm. Nhiều nơi, sự minh bạch, công khai không được đảm bảo, dẫn đến những nghi kỵ trong cộng đồng đối với những người có trách vụ. Và thật đáng tiếc, có khi, có nơi, khi xây dựng được những Thánh đường rộng rãi, bề thế, thì mất đi hoặc đã tổn hại nhiều Thánh đường khác quan trọng hơn, đó là tâm hồn người tín hữu.

Một yếu tố quan trọng trong việc xây cất Thánh đường nữa là những vị chủ chăn. Họ là những người phục vụ vô vị lợi. Rất nhiều vị đã nêu những tấm gương tuyệt vời trong việc xây dựng những cơ sở vật chất cho Giáo Hội ngày càng phát triển. Tuy nhiên, nhiều khi và nhiều nơi, việc xây dựng các công trình đã gần như một cuộc tranh đua. Để có điều kiện vận động tiền của, được cấp phép, được đi nước ngoài xin tài trợ… thậm chí có những khi có vị đã chấp nhận im lặng trước những điều vô lý của cá nhân, của xã hội địa phương với rất nhiều hiện tượng bất công, tham nhũng cũng như nhiều tệ nạn khác với phương châm “im lặng là vàng” mà người Công giáo làm chứng cho sự thật không được phép im lặng.

Những việc làm đó đã ảnh hưởng nhiều đến việc xây dựng một ngôi Thánh đường xứng đáng với ý nghĩa của Thánh đường là nơi Chúa ngự.

Một vài đề nghị

Nên chăng, để có thể có một trật tự cũng như tránh những hệ lụy không cần thiết, mỗi Giáo phận cần có một Ban Phụ trách về xây dựng các công trình trong Giáo phận. Ở đó, có thể tập trung những trí thức Công giáo và không công giáo, để tư vấn cho các Giáo xứ, Giáo họ làm nên những công trình văn hóa tôn giáo có giá trị cho Giáo Hội và đất nước.

Hiện nay, hàng ngũ trí thức Công Giáo không phải là ít trong các lĩnh vực của xã hội, kể cả lĩnh vực xây dựng cơ bản, cái chính là chúng ta có tập hợp họ lại hay không. Kể cả khi cần thiết, nên thành lập một Công ty tư vấn Thiết kế các công trình tôn giáo cho Giáo phận. Công ty đó bao gồm cả các Luật sư, sẽ tư vấn cho các Giáo xứ, giáo họ trong việc thực hiện các quy định, điều luật trong lĩnh vực xây dựng cũng như nhiều lĩnh vực khác trong các hoạt động tôn giáo của mình.

Nên chăng, mỗi giáo phận đều nên có những quy định cụ thể về việc xây cất, huy động các tiềm năng và nguồn lực cho việc xây dựng các Công trình của Giáo Hội theo những tiêu chí cụ thể, không để tiếp diễn hiện tượng mạnh ai nấy làm, manh mún và không hiệu quả như hiện nay.

Và một điều cần hơn là Giáo phận luôn nhắc nhở mọi người thấm nhuần rằng: Ngôi Thánh đường đẹp nhất cho Thiên Chúa ngự, chính là tâm hồn mình.

(Hà Nội, Ngày 15 tháng 5 năm 2007)

J.B. Nguyễn Hữu Vinh
Bài đăng trên

VietCatholicNews 19/05/2007)   http://vietcatholic.net/News/Read.aspx?id=44009giaophanhanoi.org  http://giaophanhanoi.org/default.aspx?tabId=226&articleId=841&categoryId=37&art_action=3

Kính gửi Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X.
Đại hội X đã nhóm họp, người dân Việt Nam dù ở nơi đâu cũng đang hướng về Đại hội. Những ánh mắt có thể mang nhiều suy tư khác nhau với những cách nhìn và ước vọng không giống nhau về Đại hội. Nhưng một người dân Việt Nam, mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, dù là ai, ở nơi chân trời góc bể nào cũng không thể thờ ơ với một sự kiện gắn liền với số phận của dân tộc, của đất nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Dù bất cứ cái nhìn với thiên kiến nào, sự quan tâm đó cũng là điều đáng trân trọng. Điều đó nói lên bản chất văn hóa truyền thống yêu nước tự ngàn đời của nhân dân ta được xây đắp nên. Đó là sự quan tâm của tất cả mọi người trong cộng đồng dân tộc, không thờ ơ với vận mệnh đất nước trong mọi thời kỳ, trong các sự kiện, diễn biến có ảnh hưởng lớn đến sự tồn vong và phát triển của đất nước.
Trong tâm tình đó, qua nhiều những trăn trở, tôi muốn gửi những suy nghĩ của cá nhân tôi qua đây đến Đại hội Đảng, cơ quan quyền lực cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, là lực lượng duy nhất hiện nay đang nắm vận mệnh dân tộc. Những lời này, bằng tất cả tâm huyết, bằng tất cả lòng can đảm và sự thật đang diễn ra trong từng mỗi cá nhân, mỗi con người có thật trên đất nước Việt Nam thân yêu, mà Đảng Cộng sản Việt Nam đang là lực lượng chịu trách nhiệm lãnh đạo, chịu trách nhiệm về những thành quả và những hậu quả của một giai đoạn lịch sử.
Là một công dân Việt Nam, sống trong lòng chế độ mới, chế độ được coi là Xã hội Chủ nghĩa. Ngay từ khi còn nhỏ đến khi lớn lên cắp sách vào trường, chúng tôi đã từng thuộc nằm lòng câu “Đảng ta vĩ đại – như biển rộng, như núi cao”. Ngay từ những khi biết cất tiếng hát đầu đời, chúng tôi đã ca vang bài hát “Đảng là cuộc sống của tôi”. Chúng tôi đã say sưa hát và say sưa sống trong niềm tin, dù cuộc sống còn muôn vàn gian khổ nhưng hết sức hào hùng trong hoàn cảnh cuộc chiến tranh thống nhất nước nhà. Với chúng tôi, đã có một thời, Đảng là tất cả, là những hi vọng tốt đẹp, là những hình ảnh luôn sống động và đầy hào quang vẻ vang bằng những chiến sỹ hi sinh bản thân mình vì nghĩa lớn trên mọi mặt của cuộc sống.
Tôi nhớ những ngày xa xưa, mỗi khi có những sự kiện lớn, bọn trẻ con chúng tôi náo nức cầm trên tay cái ống bơ gỉ, cái vỏ đạn đồng làm mõ, làm chiêng từng đoàn đi cổ vũ trong sự náo nức của những người dân, những cái nhìn trìu mến và ấm áp. Những cái nhìn đó thể hiện lòng tin nơi họ. Tôi đã chứng kiến nhiều những cảnh “xe chưa qua, nhà không tiếc”, những hi sinh xương máu, mạng sống của mình không chút ngại ngần của nhiều tầng lớp nhân dân, cán bộ và chiến sỹ trong cuộc chiến thống nhất nuớc nhà. Tôi đã chứng kiến nhiều những gương anh hùng, những hành động Vì miền Nam ruột thịt, vì Chủ nghĩa xã hội của những người dân miền Bắc với một lòng kiên trinh vô hạn.
Họ sẵn sàng chết như những con chiên tuẫn đạo cho niềm tin của mình về một cuộc sống ngày mai, vì tương lai của đất nước rực rỡ, mà trước hết là lòng tin của người dân với Đảng cầm quyền lãnh đạo.
Như mọi người dân Việt Nam khác, chúng tôi vô tư lớn lên trong những sự khó khăn có nhiều khi tưởng chừng như vượt sức chịu đựng của con người với một lòng tin tưởng rằng: Có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, một đội quân tiên phong, luôn lấy tiêu chí phục vụ nhân dân, phục vụ mọi người làm mục tiêu phấn đấu sẽ đưa đất nước đi lên cùng với thời đại mới. Đất nước ta sẽ tiến kịp, sẽ “sánh vai với các cường quốc năm châu” như lời chúc và mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nhiều khi nghĩ lại không khỏi bàng hoàng tại sao trong những hoàn cảnh khó khăn ngặt nghèo như vậy, con người vẫn có thể sống, vẫn có thể vui cười. Tất cả đều có một cội nguồn sức mạnh: Niềm tin. Những khi đó, ý Đảng và lòng dân là một, những khi đó cuộc sống của người dân, tính mạng của người dân, hạnh phúc của nhân dân luôn là nỗi niềm trăn trở, lo lắng của từng Đảng viên, từng tổ chức Đảng từ cơ sở đến Trung ương. Những năm tháng đó, người dân tin vào Đảng bằng một niềm tin sùng kính, không một chút nghi ngờ, bởi vì trước mắt họ, hiện thân của Đảng là những đảng viên đi trước, về sau, lấy hạnh phúc của nhân dân làm lẽ sống của mình.
Thời gian trôi qua, những cuộc chiến tranh liên miên của đất nước đã động viên tận lực sức người, sức của cho việc giữ nước, lòng tin của con người trong chiến tranh vẫn không suy giảm. Thế hệ thanh niên chúng tôi đã từng cắt máu viết tâm thư xin ra chiến trường chống chế độ diệt chủng, chống quân xâm lược bành trướng phương Bắc bằng tất cả suy nghĩ và niềm tin như trẻ thơ, sẵn sàng chết cho Tổ quốc, cho dân tộc và cho Đảng.
Những năm tháng đó, được đứng trong hàng ngũ của Đảng là một mơ ước, là để cống hiến nhiều hơn, để hi sinh nhiều hơn cho lý tưởng, cho tiền đồ đất nước tươi sáng mà không có chút vị kỷ nhỏ nhen tính toán.
Rồi khi nước nhà thống nhất, niềm vui thống nhất chưa trọn vẹn, khi trên đất nước còn đầy những vết thương chiến tranh chưa kín miệng, cả nước theo tiếng gọi của Đảng xây dựng lại Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong công cuộc xây dựng đất nước trong hòa bình, chúng tôi đã chợt bàng hoàng nhận ra, nhiều hành động và cách sống của những đảng viên, đã dần dần bôi đen hình ảnh hào hùng của Đảng đã bao công xây đắp. Từ những chiến sĩ kiên trung với lý tưởng, với nhân dân, dần dần trong Đảng xuất hiện ngày càng nhiều những người cơ hội.
Tiếng nói trung thực, chí công vô tư ngày nào trong những người cán bộ, Đảng viên được tôi luyện trong lửa và máu chiến tranh yêu nước đã dần dần im tiếng hoặc nếu còn cũng chỉ là những tiếng nói yếu ớt, đôi khi lạc lõng trong cơn lốc của nhịp sống kinh tế sôi động. Nhường chỗ cho những tiếng nói trung thực, những gương sáng hi sinh là những tiếng gọi của đồng tiền, là những quan lại Cộng sản ngày càng nhiều.
Thật là một nguy cơ khi một Đảng ngày nào còn là mơ ước trong chúng tôi đã dần dần xấu đi nhanh chóng, niềm tin gần như tuyệt đối ngày nào trong chúng tôi, đã dần dần thay thế bằng những nghi ngờ, khi mà những tấm gương mù gương xấu mà trong rất nhiều những vụ án được đưa ra ánh sáng, đó là những kẻ mang trên mình tấm thẻ đảng viên ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực. Điều đó có lúc đã làm chúng tôi hẫng hụt trong niềm tin và nhận thức.
Một Đảng ngày nào lấy quyền lợi, lấy lợi ích của nhân dân lao động làm lẽ sống và mục tiêu phấn đấu của mình, chỉ vì một tiêu chí Đảng viên cầm quyền đã tạo thành chỗ cho những kẻ cơ hội cố tình chui vào mong kiếm chác bằng mọi thủ đoạn, mọi toan tính kể cả những thủ đoạn đê hèn nhất.
Lòng tin của người dân đã đặt vào Đảng lớn lao bao nhiêu, khi bị bôi xấu bằng những hình ảnh không đẹp của một số không ít Đảng viên từ thấp đến cao đã bị ảnh hưởng và xói mòn nghiêm trọng thì sự hụt hẫng, mất lòng tin cũng lớn không kém. Điều đó không có gì lạ.
Những phần tử cơ hội chui vào Đảng, đã làm mất đi biết bao những công lao vun trồng xây đắp một hình ảnh đẹp trong lòng nhân dân của biết bao thế hệ những người Cộng sản đi trước đã hi sinh không kể máu xương, không kể bản thân gia đình, dòng tộc mình cho sự nghiệp chung.
Nhân dân Việt Nam, những người dân luôn mang trong mình lòng nhiệt thành yêu nước dần dần tỏ ra mệt mỏi và chán ngán trước hậu quả không nhỏ của những phần tử cơ hội trong Đảng tạo ra. Nhiều khi, họ đã có cảm giác rằng, niềm tin yêu vô bờ bến của họ đang bị lợi dụng và bị phản bội.
Một khi lòng tin đã không còn như trước, bị suy giảm, thì sự tập hợp sức mạnh toàn xã hội là điều không dễ dàng, thì thiên hạ bất đồng, thì nhân tâm ly tán, thì trong ngoài lục đục, thì trên dưới không yên, đó là điều dễ hiểu. Những chính sách, chủ trương dù đúng đắn, khi không nhận được sự đồng cảm, sự chia sẻ của mọi người trong xã hội, dần dần bị biến tướng và không thể thành hiện thực.
Việc gắn liền chức quyền với danh hiệu Đảng viên, đã làm không ít những người tôn thờ chủ nghĩa vật chất bằng mọi cách chui sâu, leo cao vào hàng ngũ của Đảng. Và qua họ, một số lượng cũng không nhỏ Đảng viên bị lôi kéo tha hóa theo, trong đó có cả những người đã vào sinh ra tử, đã được tôi luyện trong thép và lửa chiến tranh. Họ đã ngã gục trước những cám dỗ vật chất mà không ít cơ hội được tạo ra nhờ cơ chế đảng viên lãnh đạo. Chưa nói đến việc khi đã yên chỗ trong Đảng, những kẻ cơ hội lại tiếp tay kéo thêm những người cùng một bản chất thành những tốp, những nhóm làm cho tổ chức Đảng ngày càng tha hóa trước mắt nhân dân. Một Đảng bộ như PMU 18 vừa qua là một điển hình.
Sự dối trá đã dần dần được bình thường hóa trong xã hội Việt Nam hiện tại, một xã hội đã có cả nghìn năm văn hiến, lẽ sống của con người được đúc kết bằng những câu dạy dỗ thế hệ đời sau: “Đói cho sạch, rách cho thơm”.
Những người trung thực, dần dần mất chỗ đứng cần thiết của mình trong xã hội, thay vào đó là những kẻ nịnh trên, nạt dưới, hống hách, cửa quyền, những ông “Quan cách mạng” trong thời đại mới. Họ sẵn sàng dối trá, họ sẵn sàng bất chấp sự thật, bất chấp tình cảm con người lao vào mục đích chính: Đồng tiền. Và khi trong tay đã sẵn đồng tiền, họ sẵn sàng tôn thờ chủ nghĩa hưởng thụ. Đó là con đường tất yếu phải đến của những kẻ cơ hội.
Tôi vẫn còn nhớ, một lần trao đổi chuyện nhân tình thế thái với một đảng viên trẻ, anh ta nói rất thân mật: “Với những người thẳng thắn như anh, chẳng có khi nào được vào Đảng đâu”. Một câu nói của bậc đàn em, người đã sinh ra sau chúng tôi cả một thế hệ, lên tiếng dạy dỗ chúng tôi cách để vào Đảng, những “phẩm chất” cần thiết để vào Đảng (!). Theo chúng tôi, đó là một sự nhục mạ lớn đối với lý tưởng của Đảng và đối với đất nước, dân tộc, khi Đảng là lực lượng duy nhất đang cầm quyền.
Có thể đó là nhận thức chỉ của một đảng viên trẻ, nhưng có một thực tế: Một đảng không muốn kết nạp những người trung thực, thẳng thắn vào hàng ngũ của mình, chỉ vì các chi bộ, các cấp ủy khó chấp nhận sự trung thực, thì đó là một tai họa cho Đảng. Họ sẽ tập hợp được ai?
Mới đây thôi, một lần hỏi chuyện một người đang làm chuẩn bị vào Đảng sau bao nhiêu năm miệt mài “phấn đấu” rằng: “Anh vào Đảng có phải vì lý tưởng Cộng sản, phục vụ nhân dân, phục vụ lợi ích đất nước làm đầu không?” Anh ta ngượng nghịu trả lời: “Sao hỏi khó nhau như thế”?.
Lý tưởng cộng sản, một điều mà những chiến sỹ cách mạng trung kiên không ngần ngại xưng ra với tất cả niềm tự hào tự tâm hồn mình truớc kẻ thù, đã là một cái ngượng nghịu của những người đứng trước ngưỡng cửa của Đảng. Điều đó thật không bình thường. Và người ta hiểu, anh ta không dám nói lên mục đích vào Đảng của mình vì lẽ gì.
Khi những tệ nạn đến mức không thể chấp nhận và những phương pháp đấu tranh không hiệu quả, người dân có những cách phản kháng của họ. Một trong những cách ấy là những câu chuyện tiếu lâm truyền miệng. Câu chuyện sau đây chắc cũng đáng để Đại hội suy nghĩ: Trong một cuộc họp khai trừ ra khỏi Đảng một đảng viên tha hóa, biến chất. Một quần chúng phát biểu: “Chúng tôi là quần chúng, không nhất trí nhận những người như thế này vào hàng ngũ chúng tôi. Trước đây, khi chưa kết nạp, anh ta là quần chúng tốt”.
Chính sách của Đảng lo cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh đã ì ạch khó khăn khi thực hiện, đất nước ngày càng tụt hậu. Bên cạnh đó, không tập hợp được một lực lượng không thiếu sự thông minh, tài giỏi đầy tính khách quan trong xã hội để đưa đất nước, đưa dân tộc đi lên. Những chính sách sai lầm, hậu quả của bệnh xa rời nhân dân, chỉ tiếp xúc với những báo cáo dối trá, càng tạo điều kiện cho những phần tử cơ hội lợi dụng và kéo xã hội vào vòng luẩn quẩn. Một “bộ máy hư hỏng” đã làm cho Đảng dần dần mất sức chiến đấu ngay trong khi cầm quyền trong thời hòa bình xây dựng. Đó là một thực tế.
Một ví dụ đơn giản như chính sách đoàn kết dân tộc, không phân biệt tôn giáo, thành phần, không định kiến, đã không được thực hiện, ngay cả khi có chủ trương chính sách đúng đắn. Điều đó dần dần được thể hiện trong cách cư xử, trong cách nói, cách hành động của những con người cụ thể, của nhiều tổ chức của Đảng và Nhà nước, đã thành nếp trong não trạng của những người thực hiện.
Tôi là một người Công giáo, chủ trương của Đảng là đoàn kết lương giáo, đoàn kết mọi thành phần dân tộc. Đó là một đường lối đúng đắn nhắm động viên toàn lực nhân dân xây dựng một xã hội tốt đẹp.
Nhưng qua cách xử sự cụ thể của những con người, của những tổ chức đoàn thể cụ thể, chúng tôi hiểu rằng: dưới con mắt của các cơ quan Đảng, chúng tôi chỉ là công dân hạng hai. Điều này chứng minh không khó:
Những bài báo, những chương trình truyền hình khi nói về an ninh, về chính sách, về kinh tế… của những vùng Công giáo, ngay cả khi là lời khen cũng thường đi kèm những câu nói: “Mặc dù đây là vùng có số đông đồng bào theo đạo Công giáo, nhưng tình hình an ninh chính trị vẫn giữ vững, chính sách vẫn thực hiện tốt”… Đối với người Công giáo chúng tôi, đó là sự nhục mạ lớn. Thực tế thì trong xã hội hiện nay, những vùng Công giáo lại là những vùng sống có tình người, sự bác ái nhiều nhất và ít tệ nạn xã hội nhất. Đơn giản là vì họ có một niềm tin sâu sắc vào Thiên Chúa của họ, ở đó dạy cho con người sống phải biết “yêu thương mọi người như chính bản thân mình”.
Thế nhưng, như đã thành lệ, như một định kiến, những tác phẩm về đề tài Công giáo được xuất bản bởi các nhà xuất bản của Nhà nước, là những tác phẩm của những nhà văn ăn lương Nhà nước, được đưa vào sách giáo khoa như “Bão biển”, hoặc những tác phẩm như “Cuộc đời bên ngoài”, “Giáp mặt”… khi nói về đề tài này đã có cái nhìn phiến diện, phản ánh không đúng bản chất của những người Công giáo. Và để rồi người Công giáo nhận thức được rằng, đó là cái nhìn của Đảng, của nhà nước đối với mình. Còn người khác nhìn những người Công giáo với ánh măt nghi kỵ.
Thực chất, những tác phẩm và cách nhìn đó đã làm hại không nhỏ đến chính sách Đại đoàn kết toàn dân của Đảng.
Cái mất lớn nhất là mất lòng tin. Khi lòng tin không được vun trồng chăm bón bằng thứ nước sạch sẽ, ngược lại luôn được tưới vào đó những thứ nước dơ bẩn, đầy những độc tố của sự tha hóa, nó sẽ héo mòn và chết. Khi người dân không còn niềm tin, sự tồn vong của một chế độ, một lý tưởng dù đẹp đẽ, liệu có còn không?
Thưa Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X.
Những nghịch lý tồn tại trong xã hội đã quá nhiều, quá lâu càng ngày càng trầm trọng trong sự mong mỏi của đông đảo nhân dân Việt Nam về một sự đột phá để sửa chữa, điều chỉnh. Những nghịch lý đó đe dọa sự sống còn của một Đảng, một chế độ đã có một thời được coi là chuẩn mực trong con mắt bộ phận lớn nhân dân và hiện đang là lực lượng cầm quyền duy nhất của cả đất nước. Cái lớn hơn tất cả, là Đảng đó đang cầm quyền trong khi đất nước đang tụt hậu, mọi mặt của đời sống xã hội bị băng hoại chưa tìm ra lối thoát khả quan.
Nhưng tiếc thay qua bao kỳ Đại hội “thành công rực rỡ” bao nhiệm kỳ “hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ” của Đảng, những điều đó đã không được cải tiến. Trái lại, nó như một ung nhọt luôn sẵn sàng chực vỡ, dù cho đã có nhiều những sự cố gắng, hứa hẹn của các Ban Chấp hành Trung ương qua các nhiệm kỳ Đại hội của Đảng thể hiện bằng rất nhiều nghị quyết và chủ trương.
Viết đến những dòng này, tôi nhớ lời nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu: “Đổi mới sau 20 năm đưa lại thành tựu như thế, tại sao Đảng lại chưa vững mạnh? Tại sao như vậy? Muốn trả lời câu hỏi này, Đảng cần phải xem lại mình, đánh giá lại mình một cách nghiêm túc. Đảng không phải không biết bệnh của mình, nên mới có Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), thế nhưng khi thực hiện lại không đủ năng lực, thiếu biện pháp, thiếu ý chí, thiếu bản lĩnh…”
Tôi cũng lại nhớ lời Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhắc lại trong thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gần đây: “Một Đảng mà giấu khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có dám thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có những khuyết điểm đó, xét cả hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.
Thực chất căn nguyên sâu xa của những vấn nạn đó ở chỗ nào?
Theo cảm nghiệm của tôi, trước hết, đó là sự tha hóa không tránh khỏi trong quá trình tuyệt đối hóa quyền lực, lợi ích của Đảng tách rời lợi ích nhân dân. Đó là cơ chế, thể chế tuyển chọn và đào tạo cán bộ là sự ưu tiên hàng ngũ “con ông cháu cha”. Đó là sự thiếu một thể chế công khai, minh bạch trong các hoạt động của Đảng và Nhà nước, trong hàng ngũ các cán bộ đảng viên giữ những trọng trách của đất nước. Đó là sự thiếu thâm nhập thật sự vào đời sống nhân dân, coi nhân dân thực sự là máu thịt của mình. Đó là sự thiếu một thể chế tuyển chọn và sử dụng những tài năng của đất nước có tâm huyết, không phân biệt thành phần, quá khứ, giai cấp, tạo ra một đội ngũ cán bộ ưu tú thực sự chứ không phải chỉ là những lời tự tán dương. Đó là sự thiếu dân chủ thật sự trong các hoạt động của Đảng cũng như các hoạt động của Nhà nước, của nhân dân để người dân thật sự là những người chủ đất nước, họ có trách nhiệm và cùng lo nỗi lo chung của đất nước như của chính mình. Đó là sự cần thiết phải quay trở lại đúng bản chất của một Đảng lấy dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh không chỉ bằng khẩu hiệu. Đó là một thể chế không lấy quyền chức làm mồi nhử cho các đảng viên và những người ngoài Đảng, để họ không thấy chức quyền là mục đích của họ. Đó cũng là việc phát huy thật sự quyền làm chủ của người dân không chỉ bằng khẩu hiệu viễn vông.
Thiết nghĩ, những điều đó không phải là mới, nhưng Đại hội Đảng X có thật sự nhận thấy nguy cơ trên hay không mới là điều quan trọng, và khi nhận thấy nguy cơ đó, Đại hội có thật sự biết hi sinh những lợi ích của mình, coi lợi ích dân tộc, đất nước là trên hết hay không, để tự mình có những cuộc chỉnh đốn và bứt phá, thoát khỏi tình hình hiện tại?
Một giai đoạn lịch sử đã qua, một trang mới đang đến, vận mệnh đất nước, vận mệnh dân tộc đang được đặt vào trong tay của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mong đừng để lỡ cơ hội vàng của dân tộc, đừng để đất nước một lần nữa nhỡ chuyến tàu đưa đất nước đi lên. Đó là ước vọng và cũng là nhiệm vụ nặng nề toàn dân giao cho Đại hội Đảng X phải hoàn thành.
Xác định đúng mục đích, bản chất những thành tựu và cả những thiếu sót trong quá trình đã qua, nhằm hạn khắc phục những sai lầm, những hạn chế, đưa đất nước tiến nhanh trong khí thế kiêu hùng của dân tộc, không chấp nhận nỗi nhục đói nghèo, tụt hậu. Kiên quyết loại trừ tham nhũng thoái hóa trong đời sống xã hội, đó là con đường bắt buộc phải đi, vì sự trường tồn của đất nước. Những trách nhiệm nặng nề đó, đặt lên vai Đại hội X của Đảng lần này. Cụ thể hơn, lên tất cả những đại biểu tham dự Đại hội. Mong rằng, bằng tất cả lòng tự hào dân tộc, xác định rõ những trọng trách lớn lao của mình trước đất nước, các đại biểu Đại hội X xứng đáng với niềm tin, sự mong đợi của nhân dân.
Là một công dân, cũng như bao người Việt Nam khác trên mọi miền đất nước và trên khắp năm châu, tôi mong Đại hội lần này thực chất là một Đại hội xứng tầm cao và nhiệm vụ nặng nề của mình trong bối cảnh hiện tại của Đất nước. Đưa Việt Nam vững bước tiến lên theo kịp năm châu.
Hà Nội, ngày 17 tháng 4 năm 2006.
Một công dân ngoài Đảng.
Email: Vinh1962@yahoo.com

————————————————————————————————————————–

Cần rõ ràng, nhất quán trong các văn bản luật
13:57′ 16/05/2005 (GMT+7)

Nhiều bộ luật khi đi vào cuộc sống khiến người dân rất khó thực hiện do không có sự nhất quán giữa các văn bản luật và các văn bản dưới luật…

 

Các nhà làm luật nên quan tâm, cải tiến luật cho phù hợp với cuộc sống.

Theo tôi, đã là luật cần phải rõ ràng, dứt khoát, chống các hiện tượng đã có các văn bản luật hẳn hoi lại phải chờ các văn bản hướng dẫn dưới luật mới thực hiện được. Thậm chí, nhiều văn bản dưới luật được diễn giải trái ngược nội dung văn bản luật nguyên thủy…  Người dân không thể đủ thời gian, trình độ cũng như có các điều kiện khác để nắm được tất cả luật cùng những văn bản dưới luật để thực hiện cho đúng. Chính vì vậy mới nảy sinh chuyện “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”.Chẳng hạn, Pháp lệnh dân số ghi rõ “KHHGĐ là nỗ lực của Nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng các giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình”. “Công dân có nghĩa vụ thực hiện KHHGÐ, xây dựng quy mô gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững“. Mặc dù đã ghi rõ ràng như thế nhưng vẫn có nhiều người giải thích khiên cưỡng rằng “Gia đình ít con là một hoặc hai con, ba con là nhiều”. Cách giải thích đó không rõ ràng. Nếu có người nói rằng: “Khả năng của tôi có thể đẻ và nuôi 15 đứa con như ông bà, bố mẹ nuôi chúng tôi khôn lớn, vậy thì 3 con là quá ít đối với tôi?” Chúng ta sẽ trả lời thế nào?Tháng 9/2003, Nghị định hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh dân số viết: “Mỗi gia đình chỉ có 1-2 con” và sau đó người ta dựa vào Nghị định này để giải thích, điều này có đúng không? Tại sao ngay trong Pháp lệnh (luật) không nói ngay “Cấm các cặp vợ chồng sinh con thứ 3”? Thực tế, trước khi Pháp lệnh dân số ra đời, nhiều câu hỏi được đặt ra cho vấn đề tăng dân số nhưng chính những người có trách nhiệm giải thích rằng: “Dân trí đã cao, người dân có nhận thức nên việc gia tăng dân số không đáng ngại”. Đến khi những đứa con thứ 3 ra đời, không thấy ai nói điều đó nữa.Khoản 1 Điều 29 Nghị định 104 quy định: “Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác dân số trong cơ quan, trong hệ thống tổ chức của mình bằng hình thức phù hợp; ban hành nội quy quy chế hoặc bằng các hình thức khác dể thực hiện mục tiêu, chính sách dân số“. Phù hợp với quy định trên, Điều 7 của bản Dự thảo Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dân số, gia đình và trẻ em cũng quy định: “Cá nhân, cặp vợ chồng vi phạm các quy chế, điều lệ hoặc các hình thức khác của các bộ, ngành, UBND các cấp các cơ quan, tổ chức hoặc vi phạm các hương ước quy ước của cộng đồng trong việc thực hiện mục tiêu, chính sách dân số thì bị xử lý theo các quy định đó“. Như vậy, trên thì có Pháp lệnh dân số, dưới thì có Nghị định, rồi quy chế, hương ước… người dân sẽ thực hiện theo văn bản nào? Làm sao nông dân, công nhân có thể “cập nhật” tất cả các văn bản trên để thực hiện? Trong các văn bản đó, văn bản nào “to” hơn văn bản nào, văn bản nào phủ nhận văn bản nào? 

Trong khi chúng ta kêu gọi toàn xã hội “Sống, làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật” thì một văn bản luật không thể chấp nhận những từ ngữ không rõ nghĩa, ai giải thích thế nào cũng được. Các nhà làm luật nên quan tâm và cải tiến cho phù hợp. Có như vậy mới mong có những bộ luật thực sự đi vào cuộc sống. 

http://www.vnn.vn/bandocviet/2005/05/429145/

Dùng thuế hạn chế Internet là không thể chấp nhận được
11:50′ 09/06/2005 (GMT+7)
Việc tỉnh Yên Bái “không muốn khuyến khích loại hình này phát triển nên hạn chế cấp phép”, dùng thuế để hạn chế việc sử dụng Internet ,phải chăng là trái với chủ trương của Nhà nước trong việc phổ cập Internet đến mọi tầng lớp xã hội, phát huy những khả năng và tác dụng của nó phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn hội nhập hiện nay.

Trước hết, cần nói ngay rằng: Việc ông Đỗ Lê An – Phó trưởng phòng Tài chính kế hoạch thành phố Yên Bái giải thích: “Không muốn khuyến khích loại hình này phát triển nên hạn chế cấp phép”, là một vấn đề cần bàn.

Yên Bái hạn chế dịch vụ Internet bằng đánh thuế cao?
Cách quản lý và tính thuế mới đang khiến những hộ kinh doanh Internet ở vùng cao Yên Bái lâm vào cảnh “làm không đủ nộp thuế”, phải kinh doanh “chui”.

Tại sao “không muốn khuyến khích”? Phải chăng internet là một loại hình “độc hại” nên không được tỉnh Yên Bái khuyến khích?

Những tiện lợi của internet đối với sự phát triển xã hội trong thời đại thông tin thiết nghĩ không cần nói nhiều cũng đã có rất nhiều những công trình khoa học, rất nhiều phương tiện thông tin đại chúng nói đến. Internet đã thực sự là một cuộc cách mạng thông tin, tác động trực tiếp, thúc đẩy mọi thành phần kinh tế, tri thức nhân loại phát triển…

Xã hội Việt Nam, từ khi tiếp xúc Internet đến nay vốn chưa lâu, chúng ta vốn chậm chạp trong lĩnh vực này, nhưng Internet đã phát huy nhiều tác dụng của nó trong nhận thức, trong hoạt động kinh tế và cuộc sống nhân dân.

Tuy vậy, để phát triển và đưa Internet đi vào đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu phát triển không phải là dễ dàng, không phải ngày một ngày hai có thể đáp ứng yêu cầu, hiện nay tỷ lệ người sử dụng Internet tại Việt Nam chỉ mới đạt mức 3%… Tỷ lệ này là thấp so với các quốc gia đang phát triển. Về nhận thức, nhiều người còn chưa thấy được tác dụng của Internet, lại thêm những hạn chế về ngoại ngữ nên cảm thấy “ngại” Internet.
Nhận thức được vai trò và giá trị của Internet rất to lớn, vì vậy, chính sách của nhà nước Việt Nam đã đặt ra là cần phổ cập và phát triển Internet để nó thực sự đi vào đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu phát triển về vật chất và tinh thần của nhân dân, của mọi thành phần kinh tế, của xã hội… Trước hết là các chương trình như: Đưa Internet vào trường học, cổng thông tin Thánh Gióng, Cổng thông tin Hà Nội với chi phí tiền tỉ… không phải chỉ để cho vui. Chưa nói đến chuyện tiến tới Chính phủ điện tử.

Vậy lý do gì mà tỉnh Yên Bái lại “Không muốn khuyến khích loại hình này phát triển nên hạn chế cấp phép”? Phải chăng tỉnh Yên Bái chỉ nhìn thấy những “mặt trái” của internet?

Xin nói ngay rằng: Cái gì cũng có mặt trái, vấn đề là ở chỗ: Chúng ta phải giáo dục để những người sử dụng trẻ có nhận thức đúng đắn, có lối sống lành mạnh, biết sử dụng những tiện ích của Internet để phục vụ nhu cầu của cuộc sống, biết tự loại trừ những mặt trái của nó… điều đó phụ thuộc nhiều vào biện pháp quản lý và nhiều yếu tố khác nhau. Không thể làm cái việc “Không quản lý được thì cấm”, mà cái cần thiết là phải học tập để nâng cao hiệu quả và có những biện pháp quản lý đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội và khoa học kỹ thuật.

Điều này nảy sinh một vấn đề là Nhà nước cần phải có những cán bộ quản lý có khả năng nắm bắt được những tiến bộ khoa học kỹ thuật và đáp ứng những nhu cầu của xã hội. Nói đến điều này, tôi lại nhớ đến câu chuyện một cô bạn tôi là chủ cửa hàng kinh doanh Internet ở một tỉnh miền núi kể lại: Khi cán bộ Phòng Văn hoá đến kiểm tra ở dịch vụ Internet của cô ta, cán bộ đánh lên trên dòng điạ chỉ như sau: “xếch việt .com” , “quán nhà lá . com” và kết luận: “Không có các trang đồi truỵ”. Cũng như chuyện Trưởng phòng Kỹ thuật của một công ty khá lớn về các lĩnh vực thuộc Công nghệ thông tin thuộc doanh nghiệp nhà nước, đã yêu cầu “Muốn sử dụng Internet truy cập vào trang quốc tế, phải có ý kiến của Trưởng phòng”, điều này được ghi trong biên bản cuộc họp…

Với đội ngũ cán bộ như vậy, chuyện không quản lý được thì cấm, hoặc đánh thuế thật nặng là điều dễ dàng xảy ra.

Việc khuyến khích sử dụng Internet, đưa Internet vào cuộc sống nhân dân là điều hết sức cần thiết, nếu không muốn đất nước chúng ta tiếp tục mãi mãi tụt hậu.

H. Vinh

(Bài đăng trên VietnamNet.vn 9-6-2005

http://www3.vietnamnet.vn/cntt/2005/06/448793/)

Qua những kỳ thi – Sự dối trá?
Mục đích thi cử rõ ràng là để lựa chọn những người đủ tâm, đủ tài cho đất nước. Nhưng chúng ta không khỏi băn khoăn, trăn trở qua những kỳ thi khi nhiều kỳ thi bị biến tướng, không phản ánh thực chất của việc học hành và trình độ các thí sinh hiện tại, không phản ánh đúng thực chất của tình hình giáo dục hiện nay.
Hiện tượng quay cóp, gian lận trong thi cử, chợ luận văn, chợ phao… nói lên việc biến tướng mục đích và bản chất của việc thi cử hiện nay. Điều đó không chỉ diễn ra với lứa tuổi học sinh, mà còn với ngay cả những cán bộ đảng viên trung, cao cấp.
Gần đây nhất, việc gian lận thi hộ trong kỳ Cao học của hai vị cán bộ ở Tỉnh Quảng Bình là ông Lê Trá Khoái – Phó chánh Thanh tra Nhà nước tỉnh và Lương Hải Lưu – Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư & PT huyện Tuyên Hóa. Vụ một phó giáo sư (ông Trịnh Xuân Dũng, Hiệu trưởng CĐ Du lịch Hà Nội) bị tước bỏ chức danh vì ăn cắp công trình của người khác là ví dụ điển hình cho muôn ngàn ví dụ khác đã được xã hội nói đến.
Kỳ thi tốt nghiệp phổ thông các cấp, con số đạt tốt nghiệp thường là từ 90% trở lên, thậm chí có những nơi đến 99,067% và trong số đó số lượng đỗ loại khá giỏi khá cao. Nhưng cũng chính những cô tú, cậu tú đỗ khá giỏi ấy bước sang kỳ thi đại học, một khối lượng khổng lồ những điểm 0 trong các bài thi đại học, một khối lượng không nhỏ những bài văn cười ra nước mắt, những bài lịch sử ngô nghê, không kiến thức… đã nói lên thực chất của những kỳ thi trước đó.
Bộ Giáo dục – Đào tạo công bố: Thống kê ngẫu nhiên khoảng 10 trường ĐH công bố điểm thi năm 2005 cho kết quả, gần 1.300 thí sinh được cộng điểm thưởng học sinh giỏi (HSG), nhưng bài thi 3 môn chỉ dưới điểm 15. Trong 3 năm 2003, 2004 và 2005 có 281 học sinh giỏi thi đại học bị điểm 0.
Ngay trong kỳ thi vừa qua, trên các phương tiện truyền thông, việc gian lận thi cử được phản ánh hầu như mọi nơi, mọi lúc, mọi thành phần. Từ những người tổ chức kỳ thi, từ nhà trường, giám thị đến những người tham dự kỳ thi. Từ những học sinh đến những phụ huynh… góp phần làm mất tính mục đích của kỳ thi đã diễn ra khá rộng rãi và trở nên phổ biến.
Một kết quả ảo của nền Giáo dục. Đó là một thực tế mà rất nhiều phương tiện truyền thông đã gióng lên nhiều hồi chuông báo động từ lâu nhưng tình hình không mấy có sự chuyển biến.
Với một kết quả ảo, ngành giáo dục đã mang lại cho xã hội những hậu quả rất lớn do căn bệnh thành tích của mình.
Căn bệnh thành tích – Sự dối trá với những hậu quả khôn lường của nó
Căn bệnh thành tích là gì? Đó là sự dối trá, lừa trên, dối dưới, không phản ánh đúng tình hình thực chất của sự việc.
Xã hội chúng ta cần gì ở nền giáo dục? Phải chăng là cần những tấm bằng không thực chất? ở đó chứng nhận cho những con người không có một trình độ cần thiết tương ứng với tấm bằng họ có.
Những cha mẹ học sinh nghĩ gì khi tổ chức ném bài thi, làm mất đi môi trường nghiêm túc trong thi cử? Họ chỉ để con cái họ được tấm bằng không thực?
Cái nguy hiểm hơn của việc đó là những bậc làm cha mẹ đó đã nêu một tấm gương cực xấu về sự coi thường kiến thức, kỷ cương phép nước cho con cái mình noi theo.
Nạn bằng giả đã quá lộng hành, nhưng còn có thể hạn chế bằng cách phát hiện. Nhưng nạn bằng thật, học giả là một căn bệnh trầm kha khó tìm thuốc chữa, hậu quả của nó không chỉ là một năm, một thế hệ, mà còn ảnh hưởng lâu dài đến một tương lai đất nước, tương lai dân tộc.
Thử phân tích một hiện tượng, không khó để nhìn thấy những hậu quả của nó:
Con tôi, một trẻ em lớp 1 một trường của Thủ đô, tôi thường xuyên dạy con là phải sống trung thực. Nhưng trớ trêu thay, khi nhận kết quả học tập cuối năm, tôi hỏi: Con gái bố học giỏi thật thế à, toàn điểm 9 và 10? Cháu vô tư nói: “Không bố ạ, điểm thi của con chỉ được 7 và 8 thôi, nhưng cô giáo bảo đó là điểm ở lớp, còn điểm ghi báo cáo nhà trường và sổ liên lạc phải ghi 9 và 10”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Dữ hiền, hiền dữ phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên”. Điều nguy hại của bệnh thành tích trong Giáo dục là những thế hệ trẻ dần dần coi chuyện dối trá là bình thường. Trong khi tuổi niên thiếu là tuổi bước đầu được giáo dục để hình thành về nhân cách.
Trong hành trang vào đời của những đứa trẻ hiện nay, dối trá đã là một thứ hành trang đi theo chúng như là một hệ quả của nền giáo dục và thi cử. Những đứa trẻ đó sẽ là chủ nhân đất nước trong tương lai, vậy những ông chủ này sẽ là những người điều hành, làm chủ giang sơn này ra sao, khi mà trong đầu họ cái cần nhất là kiến thức, nhân cách thì họ quá thiếu, nhưng lại quá thừa những điều không cần thiết: Sự dối trá và thiếu nhân cách.
Nhỏ: dối trá – lớn: tha hóa là chuyện đương nhiên
Thật khó có thể kể ra hết những hậu quả của một nền giáo dục chạy theo thành tích mà bất chấp tất cả những hậu quả của nó. Khi con người không có đủ những kiến thức, khả năng để điều khiển cuộc sống, làm chủ xã hội như cần có, thì họ sẽ nảy sinh những mưu ma chước quỷ, những chuyện dối trá, lừa đảo lẫn nhau để tồn tại là chuyện không khó xảy ra.
Để có thể sống, họ tiếp tục đưa những bài học về sự không trung thực được tôi luyện qua hệ thống giáo dục ra thi thố. Và những vụ việc thiếu tình đồng loại, thậm chí mất tính người xảy ra ngày càng nhiều trong xã hội có nguyên nhân sâu xa của nó: Thiếu nhân cách. ?
Trong xã hôi Việt Nam hiện nay, sự tha hóa đang hàng ngày, hàng giờ diễn ra làm suy thoái nền đạo đức, văn hóa xã hội đã được dày công xây đắp từ bao đời.
Thử xem lại trong hàng vạn bản báo cáo thành tích ở mọi ngành, mọi cấp hằng năm, đã có được mấy lời báo cáo trung thực?. Ngay cả trong những diễn đàn lớn của đất nước, đã có được mấy tiếng nói từ lương tâm mình với sự trung thực cần thiết, đa số là tranh công, đổ lỗi… Đó là hậu quả của căn bệnh dối trá.
Cũng chính sự dối trá, thiếu nhân cách đã dẫn đến cho nhiều người, nhiều tầng lớp không muốn bỏ đi những cơ chế đặc quyền, đặc lợi, họ chỉ muốn sống bằng những cái không thuộc năng lực của mình, dù ai cũng biết rằng: đó là điều cần loại bỏ nếu muốn có một xã hội tốt đẹp. Khi con người không đủ khả năng đi lên bằng chính đôi chân vững chắc, bằng những kiến thức của mình, thì việc tạo nên và dung dưỡng một môi trường đầy rẫy sự thối nát để dung thân là điều rất dễ xảy ra.
Nhiều vụ án về suy đồi đạo đức xã hội liên tiếp xảy ra, mức độ ngày càng trầm trọng, hậu quả ngày càng lớn, can phạm càng ngày càng lộ ra những quan chức, thậm chí quan chức cấp cao ngày càng nhiều. Từ những vụ án như Lương Quốc Dũng hiếp dâm trẻ vị thành niên trước đây, đến những vụ án mua trinh trẻ vị thành niên, cưỡng hiếp học sinh ngay của những cán bộ trong ngành giáo dục Cao bằng. Những vụ án tham nhũng quy mô ngày càng lớn, tính chất ngày càng tinh vi, phức tạp, đã làm suy sụp không nhỏ lòng tin của con người với một xã hội được xây đắp trên một ý tưởng tốt đẹp. Vì sao điều đó dễ phát sinh như một bệnh dịch mà không thể dập tắt?
Mới đây, Ông Trần Quốc Thuận, Phó chủ nhiệm Văn phòng QH đã nói: “Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của của Nhà nước. Không tham nhũng mới là lạ! Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống… Nói dối hằng ngày nên thành thói quen. Thói quen đó lặp lại nhiều lần thành “đạo đức”, mà cái “đạo đức” đó là rất mất đạo đức. Đấy là một cái nguy, nhưng tôi thấy ít người quan tâm, chỉ chăm chăm vào vụ tham nhũng này, vụ tham nhũng kia.
Những câu nói trên, chắc không còn gì cần phải bình luận nhiều về sự hiện thực xã hội, về sự nguy hiểm của căn bệnh dối trá. Để loại bỏ điều đó, cần nhất từ khâu giáo dục nhân cách cho con trẻ. “Vì lợi ích trăm năm phải trồng người”.
Dù đã quá muộn nhưng chúng ta cần đặt lại vấn đề một cách nghiêm túc với nền giáo dục nước nhà: Làm gì để sự nghiệp “trồng người” được phát triển đúng yêu cầu của đất nước đặt ra? Đã đến lúc không thể chần chừ được nữa.
H.Vinh

—————————————————————————-

TỪ CHUYỆN CHÔM CỦA CÔNG, ĐẾN GIÁO DỤC Ý THỨC CỘNG ĐỒNG

Chuyện nhỏ…
Vụ cắt trộm hơn 3,4 tấn thép trụ cầu Vĩnh Tuy của nhóm thanh thiếu niên mới đây được đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng có vẻ như không mới, không gây nhiều dư luận. Đơn giản là vì những vụ trộm cắp tương tự như vậy cũng đã xảy ra khá nhiều và số tiền từ những vụ trộm đó không lớn.
Không chỉ ở riêng công trình giao thông mà rất nhiều công trình công cộng, kể cả các công trình trọng điểm Quốc gia về Điện lực, đường sắt… vẫn liên tục có những vụ trộm “nho nhỏ” như vậy. Mấy năm trước, đường dây 500 KV Bắc-Nam, một công trình quốc gia bị kẻ gian lấy ốc vít để bán sắt vụn. Hai cột điện cao thế 110 KV lưới điện lên Móng Cái bị mất 7 thanh giằng, cột điện bị xoắn rất nguy hiểm. Thủ phạm là 3 cậu nhóc: Cường, sinh 1989, học lớp 7; Khanh, sinh 1991, học lớp 5; Thành, sinh 1989, lớp 7. Rạng sáng 7/5/2005, Công an huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây, bắt quả Nguyễn Văn Siêu (1971) đang tháo trộm thanh giằng dầm cầu Đồng Vai (km 30+819 đường Hồ Chí Minh). Thời gian qua, trên các tuyến quốc lộ, nạn rải đinh nhằm “đánh bẫy” người tham gia giao thông rộ lên từ Bắc đến Nam, những kẻ kiếm tiền vô nhân tính đã đang tâm là những việc tàn nhẫn mà không cần biết hậu quả của nó. Rồi nạn trộm cắp thiết bị an toàn giao thông, theo thống kê của Hạt quản lý đường bộ II – đơn vị chịu trách nhiệm quản lý tuyến đường Pháp Vân – Cầu Giẽ, thời gian gần đây, riêng địa bàn huyện Thường Tín đã xảy ra 33 vụ trộm cắp thiết bị ATGT. Gần đây nhất, tại KM202+300 chạy qua địa phận xã Văn Tự, kẻ xấu cắt trộm 1.080 m dây thép gai. Tại Km 204+314 thuộc địa phận xã Minh Cường bị mất 336 m dây thép gai; tại Km 197+570 địa phận xã Thắng Lợi kẻ gian lấy đi 5 đệm U (có đai sắt)… tổng cộng ở địa bàn huyện Thường Tín, kẻ gian đã lấy đi 13.753 m dây thép gai, 30 cột bê tông xi măng, 32 đệm U, cột tôn sóng, 22 ống nước, đai thép. Cầu Bính (Hải Phòng) mất hơn 1.000 ê-cu ngay sau ngày cắt băng khánh thành. Trước đó không lâu, trên một đoạn đường mới khánh thành, bao nắp cống bị lật, đập nát, cũng để… lấy sắt vụn. Cầu Chương Dương Hà Nội bị kẻ gian treo mình dưới gầm, tháo đến hơn 70 thanh giằng, bán sắt vụn…
…mà không nhỏ.
Quả là những vụ trộm “nhỏ”, vì những thứ bọn trộm cắp thu được chẳng đáng là bao, nhưng hậu quả của việc đó quả là không nhỏ chút nào. Ai cũng biết, cốt thép trong bê tông là thành phần chính để chịu lực khi cấu kiện làm việc. Việc cắt những cốt thép trong trụ cầu là hành động phá hoại lớn, nhất là ở những công trình huyết mạch quan trọng của đất nước. Điều gì sẽ xảy ra, nếu những công trình đó hư hỏng sụp đổ, khi đang sử dụng với hàng loạt người đang tham gia giao thông trên đó nếu sự việc trộm cắp trên không được phát hiện và khắc phục kịp thời? Thật là một điều không ai dám tưởng tượng.
Vì những món lợi hết sức nhỏ nhoi, nhưng khi tháo những bu lông, ốc vít, những thanh giằng chịu lực, hệ thống đường dây điện có thể sụp đổ, những cây cầu bị suy yếu nghiêm trọng, có thể gây sập. Việc rải đinh trên đường cao tốc, có thể họ được lợi một vài chục ngàn đồng của người điều khiển phương tiện khi dính phải. Nhưng khi phương tiện đang tham gia giao thông với tốc độ lớn, thì tính mạng con người bị đe doạ nghiêm trọng. Đơn giản hơn, những tấm nắp hố ga, những chiếc nắp cống, những thiết bị an toàn giao thông bị lấy đi không được sử dụng đúng mục đích của nó, trị giá không lớn khi bị biến thành sắt, gang vụn nhưng hậu quả của những việc làm trên đến đâu cho xã hội khi vì thiếu những thiết bị đó mà tai nạn xảy ra?
Chưa nói đến những hậu quả sau này nếu những hành động đó không được khắc phục triệt để, mà ngay cả khi đã bị phát hiện, việc khắc phục những hành động trộm cắp đó cũng không dễ dàng: Những trụ cầu Vĩnh Tuy bị cắt cụt thép phải đập bỏ các đầu trụ bằng bêtông cường độ cao để hàn nối lại, việc hàn nối cũng không đơn giản vì nguyên tắc không thể cho phép hàn cùng trên một tiết diện khi bị cắt cụt bằng chằn chặn. Như vậy ngoài hàng chục triệu đồng để khắc phục, chất lượng công trình ít nhiều bị ảnh hưởng, tiến độ thi công bị chậm lại… mà chậm một ngày đưa vào sử dụng với những công trình huyết mạch, là một sự lãng phí tiền bạc và nhiều thứ khác đi theo.
Cái chính vẫn là ý thức trách nhiệm với cộng đồng
Việc trộm cắp là chuyện muôn thuở, thời nào cũng có, xã hội nào cũng khó loại trừ. Tuy nhiên thái độ xã hội, thái độ của mỗi người như thế nào mới là việc cần bàn. Khi nói về những chuyện trộm cắp trên, nhiều người tỏ ra ái ngại cho những hành động thiếu nhân tính, thiếu suy nghĩ, lo lắng cho những công trình luôn phải đối mặt với nạn trộm cắp, phá hoại rất dễ gây những hậu quả rất lớn cho xã hội. Nhưng cũng không ít người tỏ ra bàng quan trước những hiện tượng đó. Thậm chí có người còn chép miệng: Nhằm nhò gì chuyện ba thằng ranh con lấy mấy thanh thép bán sắt vụn lấy tiền chơi game, hoặc mấy đứa trẻ vặn bu lông cầu đổi kẹo, có những vụ trộm cắp, tham nhũng còn lớn gấp rất nhiều lần như thế(!) hoặc: chúng nó khó khăn quá, đói quá mới làm liều như thế(!)
Một thái độ và nhận thức rất dễ trở thành “bình thường” với các hiện tượng trộm cắp của công bất chấp hậu quả, chỉ vì những cái lợi nhỏ nhoi ích kỷ cho riêng mình là điều đáng báo động. Tìm hiểu những vụ việc trộm cắp gây hoặc có thể gây hậu quả nghiêm trọng, chúng ta thấy một điều đáng sợ hơn, đó là ý thức trách nhiệm với cộng đồng của những người này hầu như không có. Họ chỉ cần biết những mối lợi nho nhỏ về mình mà bất chấp tất cả, không cần biết hoặc tìm hiểu rằng hành động của mình sẽ gây cho cộng đồng những hậu quả như thế nào.
Không chỉ là những kẻ đã đang tâm trộm cắp, phá hoại những tài sản công cộng, mà những hành động coi thường kỷ luật, ý thức cộng đồng, được thể hiện bằng luật pháp, bằng những ước lệ, truyền thống tốt đẹp của dân tộc cũng là điều không thể thờ ơ. Việc vi phạm pháp luật khi tham gia giao thông, việc không thực hiện những nếp sống văn minh nơi công cộng, nơi dân cư, không giúp đỡ người khi hoạn nạn… Rất hiếm những cảnh nhường chỗ cho người già cả, phụ nữ có con nhỏ trên xe buýt hay đấu tranh triệt để chống nạn trộm cắp của công hoặc của cá nhân, mặc kệ nạn nhân mà không cần can thiệp. Những hành vi đó đều là những vấn đề đó có liên quan với chính những nét văn hoá của mỗi người trong việc nhận thức về ý thức cộng đồng của họ.
 Hiện nay, hiện tượng đó không chỉ là một con người riêng lẻ, mà nhiều khi còn là cả một tập thể, một cơ quan nhà nước hẳn hoi cũng thiếu đi những điều đó. Nhiều lần đi trên những đoạn đường thi công dở dang, chúng tôi đã chứng kiến nhiều tai nạn do việc đơn vị thi công làm xong 1/2 con đường, phần còn lại giữa đường cũ và đường mới là một con chạch như một cái bẫy. Một nhà máy hằng ngày phun bụi khói vào khu dân cư, người dân bị ô nhiễm nặng nhưng không ai chú ý, đó là những hành động coi nhẹ ý thức cộng đồng.
Một xã hội được tạo thành bởi những cá thể, những cá thể đó có ý thức chung cùng xây dựng thì tạo thành một xã hội tốt và ngược lại. Với lịch sử đất nước Việt Nam có hàng ngàn năm văn hiến, biết bao nhiêu truyền thống tốt đẹp được vun đắp, được đào luyện thành lẽ sống, thành những nếp văn hoá riêng có của người Việt Nam. Hiện tượng thờ ơ, quay lưng và phản bội lại những lợi ích chung của cộng đồng là điều không thể chấp nhận được. Từ xa xưa, những lời huấn dạy của cha ông: Giấy rách phải giữ lấy lề. Đói cho sạch, rách cho thơm… và những hành động bị lên án: Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại… nhằm giáo dục con người phải có ý thức cộng đồng trong mọi mặt cuộc sống.
Ý thức cộng đồng được hình thành và vun đắp qua quá trình sống, được giáo dục và củng cố trong môi trường gia đình và xã hội. Một đứa trẻ sẽ trở nên ngoan ngoãn, biết xử sự có văn hoá với mọi người, biết nhường nhịn và chia sẻ, lo âu cho người khác khi được giáo dục chu đáo. Khi lớn lên, những ý thức đó được phát triển bởi xã hội và trở thành nếp sống văn hoá của nó. Ngược lại, những đứa trẻ chỉ biết đến những nhu cầu của mình, mọi người chỉ có phục vụ nó, đứa trẻ đó rất dễ trở nên hư hỏng, ích kỷ thậm chí ngay cả với những người thân yêu nhất của nó là cha mẹ, anh chị em…sẽ là người sống không có ý thức cộng đồng. Rất nhiều những vụ trộm tài sản công cộng, những vụ việc vi phạm các qui định, những tập tục tốt đẹp có thủ phạm là các trẻ nhỏ. Thậm chí những vụ án mạng, những vụ trộm cắp động trời tài sản công dân và tài sản nhà nước được thực hiện bởi những băng “trộm nhí”.
Những vấn đề nêu trên buộc chúng ta liên tưởng đến một yêu cầu đặt ra không nhỏ: Giáo dục ý thức cộng đồng cho công dân, mà trước hết là lớp trẻ. Nền giáo dục nước nhà đã trải qua nhiều cuộc cải cách, môn giáo dục công dân đã được đưa vào trường học từ khá lâu. Thế nhưng điều không thể phủ nhận là hiện tượng xem nhẹ và thiếu ý thức cộng đồng ngày càng xuất hiện nhiều, phải chăng đây là một nghịch lý? Tất nhiên, việc giáo dục một con người không thể chỉ “khoán trắng” cho nhà trường, cạnh đó còn môi trường gia đình và xã hội.
Gia đình là nơi sinh ra và nuôi dưỡng con người từ thể xác đến tâm hồn từ trong trứng nước. Có những gia đình chiều chuộng con vô lý làm nảy sinh tính ích kỷ, có những gia đình mải mê công việc không có biện pháp giáo dục quản lý đúng đắn đã để nảy sinh những hiện tượng đó, nhưng không hiếm những gia đình ngay cả trong cách sống và giáo dục đã là một môi trường cho ý thức cộng đồng không có điều kiện phát triển. Gia đình Việt Nam hiện nay nhiều thế hệ đã trải qua dưới thể chế Xã hội Chủ nghĩa, những ông bố bà mẹ hiện nay cũng là những học sinh, những đứa trẻ ngày trước, suy cho cùng, vẫn là vấn đề giáo dục ý thức cộng đồng cho công dân. Phải chăng, phương pháp dạy dỗ ý thức cộng đồng của nên giáo dục nước nhà chưa đạt yêu cầu của sự phát triển xã hội? những vấn đề bất cập trong dạy dỗ và hành xử chưa thể trở thành những điều khắc ghi trong ý thức của mỗi người.
Đừng để chuyện “không bình thường” thành chuyện “bình thường”.
Môi trường gia đình và xã hội, cách hành xử của những người lớn là những tấm gương lớn cho lớp trẻ noi theo hơn bất cứ một bài giảng nào. Thật đáng tiếc đã có quá nhiều tấm gương làm cho hình ảnh người lớn, trong tâm trí trẻ thơ bị xấu đi nghiêm trọng, trở thành những tấm gương mù cho lớp trẻ noi theo. Trong xã hội hiện nay, khi mà tệ nạn tham nhũng, ăn cắp của công là một quốc nạn, việc giáo dục ý thức cộng đồng cho công dân càng khó khăn bội phần. Không thể dạy dỗ trẻ em trong sạch, khi chính mình là người ăn cắp của công. Khó có thể giáo dục các em có cuộc sống lành mạnh, khi chính người lớn làm nhiều điều đi lại những truyền thống tốt đẹp. Tính trung thực, tự giác, lòng tự trọng của mỗi con người là điều hết sức cần thiết và đáng quí cho ý thức cộng đồng phát triển.
Một bài báo nào đó đã nêu ra một nghịch lý như sau cần suy nghĩ: Một cô gái điếm bán thân nuôi miệng, lao vào con đường nhục nhằn vất vả này, suy cho cùng thì hành động , tội lỗi của họ thì họ là người hứng chịu hậu quả nhiều nhất. Nhưng họ còn biết xấu hổ khi bị bắt, bị chụp ảnh, ghi hình họ còn lấy tay che mặt. Vậy mà những ông quan tham nhũng, làm hại đến hàng chục, hàng trăm thậm chí hàng ngàn tỷ đồng của nhà nước, của nhân dân, vẫn cứ nhơn nhơn, khệnh khạng đi lại, nói năng như thời vàng son của mình trước toà án, bệnh liệt kháng về sự xấu hổ và lòng tự trọng đã phát triển đến mức đó, thì việc giáo dục cho lớp trẻ là điều không dễ dàng.
Không có ý thức cộng đồng, đó là điều không bình thường trong một xã hội văn minh có truyền thống văn hiến qua hàng ngàn năm đúc kết. Đừng để điều không bình thường đó trở thành “bình thường” trong xã hội chúng ta.
H.Vinh

( Bài đăng trên Tạp chí Hà Nội ngàn năm – 2006)

Chỉ tiêu, như bản thân nó vốn có

Chỉ tiêu, là những con số cụ thể trong các kế hoạch nhằm định mức phấn đấu cho một tổ chức, cá nhân trong những công việc cụ thể phải đạt tới.
Từ xưa đến nay, không ai phủ nhận vai trò tích cực của những con số chỉ tiêu đúng đắn, sát thực tế để đưa ra mức phấn đấu cho những công tác, những kế hoạch đưa đất nước, tổ chức xã hội đi lên.

Xét cho cùng, chỉ tiêu là mục đích phấn đấu cho từng công việc, giai đoạn cụ thể. Vì thế, nó chỉ có ý nghĩa thực sự khi nó đạt được bằng chính năng lực và tình hình thực tế tại các thực thể chuyển động.

Một chỉ tiêu xa rời các điều kiện thực tế là chuyện viễn vông, một chỉ tiêu không đặt được định hướng phấn đầu tích cực là một chỉ tiêu không có tác dụng.

Những điều đó cho thấy, các nhà hoạch định chính sách, kế hoạch cần có đầy đủ tri thức. cơ sở dữ liệu cũng như các yếu tố đảm bảo cho việc xác định các con số chỉ tiêu sát thực tế, khả thi và tích cực, là một việc làm hết sức quan trọng và nghiêm túc.

Chỉ tiêu ngày nay, sự biến tướng từ mục đích thành phương tiện

Trong quá khứ, câu chuyện đầy tính bi hài về chỉ tiêu và thực hiện chỉ tiêu là hình ảnh hai nhân vật thầy MinĐơ và MinToa trong tác phẩm « Số đỏ » của cố nhà văn Vũ Trọng Phụng. Chỉ vì để đủ chỉ tiêu phân bổ cho chi nhánh Ty cảnh sát là phải phạt đủ năm ngàn bạc cho ngân khố, sở Cẩm phải nghĩ ra biết bao nhiêu những điều trái khoáy, nghĩ ra đủ các cách để phạt tiền dân. Khi phạt dân không đủ, họ nghĩ ra những cách quái dị, cả cách để phạt tiền lẫn nhau, thúc giục mọi người phạm lỗi để phạt ngay chính gia đình mình và bạn bè, thậm chí rất hậm hực, tức tối vì người dân không chịu vi phạm quy tắc để được phạt cho đủ… chỉ tiêu được giao.

Những tưởng câu chuyện chỉ tiêu hài hước kia chỉ có trong xã hội phong kiến thời xưa. Nhưng không, giờ đây, trong xã hội Việt Nam hiện đại, cái bệnh chỉ tiêu kia cũng không kém phần nhức nhối hoành hành ngày càng nặng và thuốc chữa như càng ngày càng bị nhờn.

Gần đây, vấn đề chỉ tiêu lại biến tướng, nảy sinh những vấn đề bất cập của nó. Từ chỗ nó là mục đích phấn đấu, bị biến thành phương tiện, giành thành tích để tiến thân của không ít những cá nhân, tổ chức trong xã hội, bất chấp hậu quả, bất chấp tiêu chí cơ bản của con người mới đã được dày công và dài thời gian xây dựng là sự trung thực…

Không ít những doanh nghiệp Nhà nước, quá trình kinh doanh thua lỗ nặng nề triền miên, đời sống cán bộ nhân dân ngày càng đi xuống. Nhưng cuối năm, trong những báo cáo rộn ràng, vẫn là những con số đạt chỉ tiêu phấn đấu loảng xoảng những sự dối trá với biết bao những thủ đoạn sau đó.

Chúng tôi đã từng chứng kiến những doanh nghiệp nhà nước giữa năm lo chạy đôn chạy đáo xin điều chỉnh chỉ tiêu kế hoạch, cuối năm cuống cuồng lo vay sản lượng, ký hợp đồng khống… chỉ nhằm đảm bảo doanh thu, đạt bằng được con số chỉ tiêu kế hoạch đã giao. Mục đích của những việc đó là để đạt danh hiệu: Đơn vị hoàn thành kế hoạch, đơn vị xứng đáng nhận cờ luân lưu, cờ thưởng… thủ trưởng đạt danh hiệu cá nhân này nọ… thật là vô vị cho xã hội.

Một câu chuyện thời nay : Ở xã nọ, có một phong trào « nhà nhà trồng cây, ngành ngành trồng cây, người người trồng cây ». Xã đứng lên phát động toàn xã cùng ra quân trồng cây đạt chỉ tiêu 10.000 cây con.

Kết quả cả xã trồng được 2.000 cây con. Tuy nhiên khi xem xét báo cáo cuối đợt của toàn xã, số cây được báo cáo là 10.000 cây? Vì sao vậy? thì ra tất cả các đoàn thể, từ Phụ nữ, Thanh niên, Phụ lão, Thiếu nhi và Mặt trận đều báo cáo về phong trào trồng cây của tổ chức mình với kết quả là đã trồng được 2.000 cây con cho mỗi tổ chức, tổng cộng là 10.000 cây con được báo cáo hùng hồn lên huyện.

Năm 2005 là năm kết thúc việc thực hiện Nghị quyết 07/CP của Thủ tướng Chính phủ ra đời tháng 6/2000 về phát triển Công nghệ giai đoạn 2001 – 2005. Kỳ vọng lúc ban đầu là rất lớn và thậm chí “5 năm phát triển Công nghệ Phầm mềm (CNpPM) đã được ví với cả 100 năm công nghiệp than”. Tuy mới đi được nửa chặng đường, cả các cơ quan nhà nước và các DN đều nhận thấy là không thể hoàn thành được mục tiêu giá trị 500 triệu USD vào năm 2005. GS Chu Hảo cho biết, con số 500 triệu USD không phải là do các cơ quan nhà nước áp đặt mà dựa trên cam kết của các DN, các ngành và địa phương với tổng giá trị lên tới 1 tỷ USD. Như vậy, con số 500 triệu USD được đưa ra có nghĩa là đã được trừ đi một nửa giá trị được cam kết. Ông Trương Gia Bình – Tổng giám đốc Cty FPT lại cho biết: Việc các DN không thể thực hiện nổi giá trị như mong muốn các hợp đồng gia công, xuất khẩu phần mềm là do nguồn nhân lực chưa đủ sức đáp ứng được

Không chỉ có trong những ngành kinh doanh, kinh tế, bệnh hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch một cách bất chấp thực tế diễn ra khá nghiêm trọng ngay trong ngành Giáo dục, một ngành mà sự trung thực là điều cần thiết bậc nhất với đặc thù của một ngành trồng Người. Căn bệnh trầm kha này đã được nói quá nhiều, quá lâu, nhưng gần như biến chuyển không được là bao.

Để đạt chỉ tiêu là 90, 95 thậm chí 99 % học sinh đạt khá giỏi, đỗ tốt nghiệp, nhiều nhà trường, nhiều hội đồng thi, nhiều nhà giáo đã bất chấp tiếng nói trung thực của lương tri người Thầy, họ tìm cách đạt được các chỉ tiêu trên bằng mọi giá.

Câu chuyện tiêu cực trong thi cử gần đây là một điển hình. Bao nhiêu những tiêu cực trong các kỳ thi từ nhỏ đến lớn, sự vi phạm qui chế trường thi diễn ra ngày càng nghiêm trọng từ nhỏ đến lớn, từ kỳ thi vào lớp 1 đến kỳ thi cao học. Những người vi phạm qui chế thi cử (thực chất là vi phạm, coi thường pháp luật) không chỉ là các học sinh cấp 1, cấp 2, mà ngay cả đến cả các tiến sĩ, giáo sư. Không chỉ có người dân thường mà ngay đến cả Ủy viên Trung ương Đảng. Những người đó, những tổ chức đó, họ đã tìm mọi cách để đạt chỉ tiêu ảo, những điều thực tế không có.

Chỉ những chỉ tiêu mang tính thực tế mới có cơ sở thực hiện và có tác dụng thực sự.

Thực tế những ví dụ trên cho thấy, khi nhà hoạch định những kế hoạch đưa ra những chỉ tiêu, những người khai sinh ra nó đã không có dữ liệu và cơ sở thực tế. Những người thực hiện, do bệnh thành tích quá nặng nề, đã tìm mọi cách để đạt bằng được, kể cả những biện pháp vi phạm pháp luật, chính họ đã đưa ra những thành tích ảo khi thực hiện các chỉ tiêu ảo. Những con số đưa ra là những con số dối trá. Những bước hành động đạt các chỉ tiêu đó là những hành động phản tiến bộ, không thực chất.

Không biết bao nhiêu chuyện hài hước đã xẩy ra. Cái nguy hại của hiện tượng đó quả là không hề nhỏ. Những hệ lụy của nó không đơn giản chỉ là một lĩnh vực, mà nhiều khi, nó ảnh hưởng đến toàn bộ sự vận hành và phát triển của hệ thống xã hội. Trong lịch sử, không hiếm những chỉ tiêu, kế hoạch đã được trả giá bằng máu, và nước mắt của nhiều người.

Vậy có cách nào để kiểm chứng những chỉ tiêu đưa ra là có cơ sở thực tế và có tác dụng tích cực? Lối thoát có vẻ rất khó khăn (!)

Xin thưa, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: « Dễ trăm lần, không dân cũng chịu. Khó vạn lần, dân liệu cũng xong ». Hãy để người dân được thực hiện đầy đủ vai trò người chủ, người giám sát của Nhà nước, của các cơ quan công quyền. Chính họ, sẽ là những người cho chúng ta biết: thực chất của những chỉ tiêu đó có tác dụng đến đâu. Xin những quan chức bớt chút thời gian vàng ngọc, để hiểu người dân muốn gì và đất nước cần gì để đưa ra những chỉ tiêu phù hợp cho sự phát triển của đất nước. Đừng để những chỉ tiêu ảo hoành hành.

H. Vinh

Bài đăng trên tạp chí Hà Nội ngàn năm – 2006

Dù đã quá lâu từ khi tạm biệt trường lớp, mỗi khi hoa phượng nở, tôi lại bồi hồi nhớ những mùa thi. Câu thơ ngày nào của ai đó chép trên trang sổ nhỏ, dù nhòe nét mực vẫn hiện rõ trong tôi:

Ta nóng lòng, hoa phượng cũng nóng lòng
Mùa thi đến, hè ơi sao vội thế
Ước mơ trở thành cô giáo trẻ
Thời gian đang xích lại gần mình…

Cứ mỗi độ ve bắt đầu râm ran, những chùm phượng nở cháy rực mùa hè, cũng là khi mùa thi lại đến…

Mùa thi – Ai trong cuộc đời chúng ta chẳng phải trải qua những mùa thi.

Những năm tháng tuổi thơ cắp sách tới trường, ngỡ ngàng chập chững bước vào những mùa thi đầu đời, tay mang cặp sách mà lòng bao hồi hộp lo âu, cây bút cầm tay mà cứ mãi tìm đâu đó. Những mùa thi chuyển cấp, vào trường là bao phập phòng lo lắng, bao công phu chuẩn bị… Những mùa thi tốt nghiệp ra trường là bao trăn trở, hi vọng ở tương lai.

Anh biết em đang vào mùa thi
Cái bận rộn sắp được làm cô giáo
Hạt thóc chín vàng sắp thành hạt gạo
Vẫn còn trau qua nắng, phải không em?

Tất cả những ngày đó, gắn liền với mùa hoa phượng nở, với mùa tiếng ve kêu.

Dù đó là mùa thi với cái đói cồn cào trên những quả đồi đất Hương Canh ngày xưa, hay những mùa thi với máy lạnh, quạt máy trong một căn phòng nơi cao ốc ngày nay, mùa thi vẫn luôn luôn sống động trong quãng đời tuổi trẻ với những kỷ niệm khó có thể quên.

Trên khắp mọi miền đất nước, từ miền quê hẻo lánh đến chốn thị thành nhộn nhịp, những cô cậu học trò tinh tươm đô thị hay những đứa bé ngồi lưng trâu đọc sách trên những quả đồi trơ trọi nắng. Từ những bạn trẻ đang miệt mài trong lớp luyện thi nơi đô hội, cho đến những em nghèo chăm chỉ bên chiếc đèn dầu đêm khuya nơi xóm nhỏ… Tất cả hướng tới một mùa thi.

Những mùa thi như một điểm hẹn thời gian được mọi người để tâm, làm bao người hồi hộp.

Sự hiếu học của dân tộc ta đã hun đúc nên một truyền thống quý báu, một nét văn hóa cao đẹp đã được xây dựng từ bao đời nay. Những câu chuyện dân gian kể về những học trò nghèo quanh năm miệt mài đèn sách, vượt lên tất cả những khó khăn đời thường chăm chút cho những mùa thi quyết trở thành những nhân tài thực sự để giúp ích cho đất nước, làm đẹp cho đời… còn nguyên giá trị như những tấm gương sáng cho đời sau noi theo về tinh thần luyện rèn vượt khó.

Trong xã hội ngày nay, câu chuyện về anh chàng học trò đốt lá đa đọc sách, dùng đom đóm thay đèn, câu chuyện về con cá gỗ, hay câu chuyện cảm động về tình bạn Lưu Bình, Dương Lễ xưa khó có thể được chia sẻ một cách thấu đáo của thế hệ trẻ. Có thể mãi mãi đó chỉ là những câu chuyện cổ tích nhưng tinh thần hiếu học trở thành huyền thoại, trở thành tất yếu trong suy nghĩ của những người dân Việt Nam mãi mãi trường tồn. Đó cũng là một động lực lớn để thế hệ trẻ vươn lên làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ nhân thật sự của đất nước, của dân tộc bằng con đường học vấn.

Tự ngàn xưa đến nay, những mùa thi cứ đến hẹn lại lên. Những lớp người tiếp nối nhau đi lên phía trước qua những nấc thang cuộc đời đánh dấu bằng những mùa thi.

Chiếc giường tầng qua đi bao thế hệ
Chỗ em ngồi, ai trước thức thâu đêm?

Bao câu thơ, bao bài viết về mùa thi, nhưng dường như chưa đủ, mỗi lần mùa thi đến, sao ta vẫn thấy chộn rộn bồi hồi, câu hát ngày nào vẫn còn ngân mãi trong ta như tiếng vọng của một thời tuổi trẻ “Giống mùa phượng vĩ hai đứa mộng ngày thi, đến ngày phượng nở, hai đứa mình cùng đi…” Người đi xây hồ Kẻ gỗ – Nguyễn Văn Tý

Những hàng bia Tiến sỹ trong Quốc tử giám như nói với chúng ta về một truyền thống hiếu học và trọng học vấn, những tấm huy chương trong các kỳ thi quốc tế đem lại vinh quang cho đất nước ngày nay là tiếp nối truyền thống đó. Tất cả những điều đó đều được xác định qua những mùa thi.

Với mong ước cho một dân tộc “sánh vai với các cường quốc năm châu”, việc học tập, nắm bắt những kiến thức, tri thức của nhân loại là con đường tất yếu phải đi qua. Giáo dục là một yếu tố không thể thiếu và không thể coi nhẹ trên con đường đi lên của dân tộc, của đất nước.

Những mùa thi là mùa gặt, mùa tuyển lựa xác định thành quả sau một năm gieo hạt. Tiếc thay, trong xã hội ngày nay, nhiều khi, nhiều nơi đã không chú trọng điều đó như một mục đích. Bệnh thành tích, sự dối trá đã len lỏi không ít vào môi trường giáo dục, làm mất đi nhiều ý nghĩa đúng đắn của những mùa thi. Và trong mùa thu hoạch đó, nhiều hạt chắc, hạt lép đã lẫn lộn vàng thau, đưa ra xã hội những sản phẩm kém chất lượng. Và điều nguy hiểm hơn là xã hội phải mang một gánh nặng của những sản phẩm kém trí tuệ, thiếu tri thức với nạn học giả bằng thật. Nó còn nguy hại hơn cả nạn bằng giả lan tràn.

Việc xác định đúng đắn mục đích đặt ra như tự ngàn đời vẫn có là điều cần khẳng định lại một cách nhất quán. Phải để mùa thi thực sự là những chiếc sàng chọn lựa, để mùa thi mãi mãi đúng với ý nghĩa của nó: Lựa chọn những nhân tài cho đất nước, chuẩn bị cho thế hệ trẻ một hành trình hướng tới tương lai, đưa đất nước đi lên cùng nhịp với nhân loại tiến bộ.

Việc bỏ đi những kỳ thi có thật sự là cần thiết cho sự nghiệp giáo dục của nước nhà hay không? Điều đó cần sự nghiên cứu nghiêm túc của các nhà khoa học. Việc chọn lựa, sàng lọc để nâng cao chất lượng giáo dục là điều hết sức cần thiết. Không thể vì lý do nào đó về phổ cập, về số lượng hay những khó khăn hiện tại mà để chất lượng giáo dục đi xuống khi bỏ đi những kỳ thi cần thiết.

Tháng năm, lại một mùa hè đến, những chùm hoa phượng thắp lửa trên cao, tiếng ve sầu râm ran trong những tán cây mát rượi báo hiệu mùa thi đến. Chúng ta nghĩ gì và làm gì cho một mùa thi đúng với mục đích và ý nghĩa nguyên thủy?
• H.Vinh

Hai tháng đã trôi qua, kể từ ngày tôi theo đoàn “Tình thương” của các Giáo Xứ Thịnh Liệt, Đồng Trì, Nam Dư và Giáo Họ Vạn Phúc lên thăm Trại phong Quốc Oai – Hà Tây, nhưng những dư âm của một chuyến đi đọng lại nhiều trong tôi những nỗi niềm sâu lắng.
Những ngày cuối cùng của năm âm lịch sắp qua, cái tết đã cận kề, trên các chuyến xe của cuộc hành trình đến với những người bất hạnh vẫn náo nhiệt, át đi những luồn gió lạnh bên tai. Những nam thanh, nữ tú của các Giáo Xứ vẫn hồn nhiên, nhiệt thành vui vẻ như được đến một nơi họ đã trông đợi từ lâu. Có hai bạn gái đến muộn, xe đã chuyển bánh, không ngại cái rét căm căm buổi sáng, một mạch phóng xe máy chở nhau đến Nhà thờ Đại Ơn quyết theo kịp đoàn . Những cụ già chăm chỉ dậy từ sáng sớm tập trung nơi tập kết, quyết không thua “bọn trẻ” trong những công việc vất vả này.
Cha Giuse Bùi Ngọc Tuấn, Giám đốc quỹ Tình thương miền bắc, người chủ trì cuộc đi này đã có chương trình chuẩn bị kỹ càng cho chuyến đi từ vài tuần trước. Đây là năm đầu tiên, ngài “xã hội hóa” công việc mà Ngài đã làm từ hơn 10 năm nay, từ khi Ngài mới gánh trên vai thiên chức Linh mục. Với phong thái nhanh nhẹn, trẻ trung, một loa nén cầm tay, ngài hướng dẫn đoàn xe “Tây tiến”, dù chỉ cách Hà Nội có gần bốn chục cây số. Ngồi trên xe, chúng tôi mới có dịp để tham hỏi nhau về cái tết sắp đến gần, về những dự định, những chương trình của Giáo Họ, Giáo Xứ…
Đoàn xe các Giáo Xứ tập trung trước của Nhà thờ Đại Ơn, nối đuôi nhau đến Thị trấn Xuân Mai thì rẽ phải. Ngồi trên xe mà tôi cứ phân vân, không biết Trại Phong ấy còn bao xa? Nó ở nơi nào mà lại mang địa danh Quốc Oai? Con đường Xuân Mai – Hòa Lạc, Huyện Quốc Oai của Tỉnh Hà Tây thì tôi không lạ. Tôi đã đi lại con đường rất nhiều lần với các cán bộ địa phương ở đây, vậy mà đâu có lần nào tôi được nghe đến cái trại phong nào đó?
Chiếc xe đầu tiên dẫn đoàn cứ hướng ngã ba Láng – Hòa Lạc thẳng tiến, đến khi nghe gọi nhau qua điện thoại: “Quá đường, đã vượt qua chỗ rẽ”, tôi hơi ngạc nhiên, tôi đã chú ý kỹ lắm, nào có cái biển báo nào đâu? Đoàn xe quay lại. Cha Tuấn dẫn đoàn vào một con đường nhỏ, chỉ đủ chỗ cho chiếc xe 29 người đi một chiều, thêm khoảng 1 km thì đến “Khu điều trị phong”. Thì ra, nơi này có một xã hội riêng cho những người bất hạnh, con đường nhỏ dẫn đến những thân phận bé nhỏ là đây.
Một khu đồi vắng lặng, không khí nhộn nhịp của những cảnh sắm tết đã ở lại sau lưng chúng tôi. Một khoảng không gian nhỏ, nhưng sự cách biệt thì quả là lớn.
Đoàn chúng tôi được sự hướng dẫn của sơ Xuân thuộc dòng Mến Thánh Giá Hà Nội, (người đã có hơn 14 năm lăn lộn, đi lại chăm sóc cho những người bênh của các bệnh nhân phong các trại khu vực miền bắc, người đã coi việc được phục vụ tha nhân là lẽ sống, là hạnh phúc của đời mình). Chúng tôi được vào một hội trường đơn sơ, Lãnh đạo khu điều trị ăn mặc giản dị nhưng nhiệt tình, chân thật tiếp chúng tôi. Có lẽ ở đây, việc ăn diện không phải là quan trọng và cần thiết lắm.
Trong buổi gặp mặt, chúng tôi được biết: Khu điều trị hiện có 123 bệnh nhân, có những người bệnh nhân nặng hiện không thể đi lại được. Theo họ, còn có hơn 30 chục cháu nhỏ là con cái của họ. Mấy năm gần đây, một phần được nhà nước hỗ trợ, một phần được các tổ chức từ thiện, nhân đạo giúp đỡ, đời sống bệnh nhân phong có phần nào được cải thiện. Trong buổi tiếp, bác sỹ Giám đốc khu điều trị và các bệnh nhân đã tỏ sự xúc động sâu sắc khi nói đến những ân nhân của mình. Đặc biệt, người được nhắc nhiều với lời tri ân chân thành nhất là Sơ Xuân, người đã đồng cam cộng khổ cùng các cán bộ ở đây trong việc phục vụ chăm sóc bệnh nhân.
Một cuộc tiếp kiến đơn giản, chúng tôi được kéo nhau về phía nhà Nguyện của khu điều trị. Ở đó các thanh niên đã chuẩn bị cho một Thánh lễ cầu nguyện cho các bệnh nhân. Nến, hoa, dàn âm thanh… đã được chuẩn bị chu đáo. Tôi không ngăn được những cơn xúc động dâng trào trong tôi, khi có những bệnh nhân đã cụt hết cả hai bàn tay, người cụt cả đôi chân, những đôi bàn tay trơ trụi… bước đến Tòa xá giải. Lâu lắm rồi, những bệnh nhân giáo dân không được một lần đến Nhà thờ, nơi mà từ những ngày thơ bé nhất đã in hình lên dấu ấn tâm hồn họ.
Có những bệnh nhân vào khu điều trị phong đã hơn 50 năm, có những người đã hơn 3/4 quãng đời sống trong khu điều trị. Một bệnh nhân già, có “thâm niên” ở đây đã hơn 40 năm cho tôi biết: “Chúng tôi, đã đến đây là không có ngày trở ra khỏi trại, nhiều khi nhớ vô cùng nơi quê nhà, nhớ con cái, họ hàng, bè bạn… Nhưng không thể bước chân về lại một lần thăm nơi chốn cũ”. Những mặc cảm, những định kiến xã hội đối với những người bất hạnh này còn quá nặng nề.
Thánh lễ cho những người bệnh ở đây được tiến hành với sự tham dự của tất cả bệnh nhân, không phân biệt lương, giáo. Với những bệnh nhân giáo dân, đây là một Thánh lễ hiếm hoi và đặc biệt, với những người thuộc tôn giáo khác, đây là một ngày hội của Khu điều trị này. Bên cạnh những ánh mắt thành kính, những lời đọc kinh run run xúc động, là những cái nhìn mơ màng ngơ ngác đứng nhìn việc cử hành nghi tức Thánh lễ.
Sau Thánh lễ, chúng tôi cùng những bệnh nhân xuống khu tập trung “hội chợ xuân” cho các bệnh nhân. Những bệnh nhân nặng được những người thanh niên khỏe mạnh không quản ngại dìu đi, cõng trên lưng mà không có một sự e dè cách biệt. Màn văn nghệ “bỏ túi” được các bạn trẻ trình diễn hào hứng, được sự cổ vũ nhiệt tình của các bệnh nhân, họ cũng tham gia các tiết mục tự biên của họ. Qua đó tôi mới thấy rằng: Khát vọng sống trong những con người này là điều bất diệt. Vượt qua đau khổ, bệnh tật, qua những sự kỳ thị, xa lánh của xã hội, họ vẫn có những mơ mộng, hoài bão và những điều thiêng liêng khác trong sâu thẳm tâm hồn. Nhìn những gương mặt tươi cười, những tràng vỗ tay không ngớt hào hứng, tôi mới thấy hết nghị lực con người thật lớn lao.
Bệnh nhân Giuse Nguyễn Văn Thành, người đã có thời gian mấy chục năm ở khu điều trị này, hiện nay đã cụt mất một chân trái và một nửa bàn chân phải, một bàn tay chỉ còn vài ngón vẫn luôn miệt mài viết văn, làm thơ… Tập Thơ Hương sắc La Vang của anh được in lưu hành nội bộ, nói lên những tâm tình, những niềm tin tưởng vào Thiên Chúa, vào tình người đã mang đến cho anh và mọi người. Ở nơi này, anh hiểu được hơn ai hết ý nghĩa của những hành động tương thân, những nghĩa cử bác ái lớn lao đến độ nào.
…Trong đau buồn, tủi hờn cay đắng
Bỗng sáng ngời lời dạy, Chúa Ki tô
Đây hội Đồng Tâm, huynh đệ đội nắng mưa
Chia sẻ tình người từ Nam tới Bắc
Ôi, tình yêu chưa bao giờ vụt tắt
Giữa dòng đời đang quên lãng chữ Tâm
Một chút ủi an, một chút tấm lòng
Đáng trân trọng nghìn lần luôn vẫy gọi…
Sau bữa cơm chia sẻ với các bệnh nhân bằng bánh mỳ, mọi người cùng nhau tổ chức “Siêu thị” cho bệnh nhân.Khu “hội chợ, siêu thị” được tổ chức thật vui theo sáng kiến của Sơ Xuân và Cha Tuấn, được các thanh niên trong giới trẻ các xứ chuẩn bị công phu, chu đáo. Mỗi người được phát một bao lì xì, trong đó có phiếu mua hàng trong các “siêu thị” của các cô gái phục vụ. Các bệnh nhân hồ hởi chọn, nhặt mua những món hàng mình thích. Có những người hơn 50 năm rồi không biết đến khái niệm “đi chợ”. Hôm nay, họ được đến “siêu thị” được tham gia “xổ số”, ai nấy tưng bừng như ngày hội lớn.
Trong khi đó Cha Tuấn đã đến thăm những bệnh nhân liệt giường, làm phép Xá giải và Xức dầu cho họ, thật cảm động khi nghe họ nói: Chúng con nằm đây nghe tiếng hát, tiếng nhạc ngoài đó vọng vào, lòng nôn nao muốn đi ra mà không thể nào đi nổi. Tôi chợt nghĩ: Có thể vì vậy mà khu bệnh nhân phong này được biệt lập với thế giới bên ngoài như vậy chăng? Nếu như họ chứng kiến cuộc sống xô bồ bên ngoài, ngay cạnh họ là những khu ăn chơi, nhà nghỉ, đua xe của các bạn trẻ, chắc trong họ khó giữ được sự yên bình và thanh thản?
Ngày vui ngắn chẳng đầy gang, cuộc vui nào cũng đến khi tàn. Chia tay những người bệnh ở Khu điều trị Phong Quốc Oai ra về, trong tôi cứ ảm ảnh một nghĩ suy sâu sắc: Hãy đến đó, để biết rằng mình còn là người được hạnh phúc nghìn lần hơn những số phận này. Đâu đó trên đường Hà Nội, những cánh hoa đào đón xuân nở rộ bên đường.
Và những bạn trẻ, những người đang đắm chìm theo những mốt thời thượng, những cuộc du hí “đốt tiền không tiếc” nên nhớ rằng vẫn có những con người bất hạnh, chỉ một chút tình thương thôi, dành cho họ cũng là một chút của để dành cho đời sau như lời răn “Khi Ta đói, các con cho Ta ăn” và “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”.
Hà Nội, 15/3/2006.
• H.Vinh

Bài đăng trên http://giaophanhanoi.org

Thế giới phụ nữ, một thế giới biết bao bí ẩn nhưng vô cùng thân thương. Bí ẩn và khó hiểu nhất của thế giới phụ nữ lại chính là những điều thân thương nhất, khi ta đi tìm căn nguyên của lòng yêu thương bao la của mẹ hiền, lòng thuỷ chung, son sắt của người vợ đảm, lòng nhân hậu bao dung của cô giáo… tất cả đúc kết nên một phần không thể thiếu của cuộc sống mỗi chúng ta. Một nhà thơ đã viết: “…Đời không mẹ hiền, không phụ nữ/ Anh hùng, thi sĩ, hỏi còn đâu?” Vâng! Tất cả phụ nữ, từ những người mẹ, người vợ, chị em, cô giáo, thậm chí cả những người mà ta không quen biết… đã giành cho chúng ta một cuộc đời biết bao hương sắc tươi đẹp.

Có thể hàng ngày bạn cùng sống, cùng chuyện trò với họ nhưng có những điều không thể nói ra. Cũng có thể người phụ nữ sống gần bạn không để lại ấn tượng nào sâu đậm nhưng khi xa rồi bạn mới cảm thấy thiếu vắng đi một điều gì đó. Nhà văn Võ Thị Hảo mới đây đã thốt lên những lời từ đáy lòng: “Nghề báo và nghiệp văn buộc con phải đi nhiều và viết rất nhiều. Con viết về bao nhiêu là kiếp người và biết bao nhiêu điều. Vậy mà chưa một dòng nào về mẹ. Viết về người ta yêu là điều thật khó. Vì cái gì ta quá yêu thì thật cạn lời để nói. Con chỉ luôn cảm rằng, mẹ đang đồng hành cùng con”.

Một bạn đọc của VietNamNet viết về bà nội của mình:

Cứ mỗi lần nói đến hình ảnh người phụ nữ, tôi lại nhớ đến bà nội tôi. Tôi không bao giờ quên hình ảnh một người đàn bà nông thôn bé nhỏ, hiền lành, lam lũ, một nắng hai sương… Bà không biết chữ. Chữ duy nhất mà bà có thể nhớ là chữ S, mà theo bà vì nó “cong cong như cái móc đèn dầu lạc”. Vậy mà những năm đầu của thập kỷ 60, bà đã quyết tâm cho bố tôi đèn sách ra Hà Nội học đại học, lúc bấy giờ số người học cấp hai, cấp ba chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Bà thật hiền, chưa bao giờ tôi nghe bà nặng lời với con cháu. Bây giờ, mỗi khi con tôi văng tục, chửi bậy, tôi lại nhớ đến bà. Tôi còn nhớ, mỗi lần khi quá bực tức, bà tôi chỉ dám nói: “Mần như cái ke nước đái” với bà, như vậy là đã tục lắm rồi. Bà bắt chúng tôi gọi kẻ ăn mày là “người qua đường”, kẻo “tội mồm” – bà bảo thế.

Cứ sau mỗi đợt bom Mỹ dội xuống làng quê bé nhỏ của bà, bà lại ngồi khóc thương bố tôi đang ở Hà Nội “không biết cơ sự ra sao”. (Sau này bố tôi kể lại, tôi mới biết rằng Hà Nội lúc đó là nơi an toàn hơn cả). Bà không thể kèm cặp đèn sách cho chúng tôi nhưng luôn dạy dỗ theo cách của bà, qua những bài vè, những lời ru. Tuổi thơ của chúng tôi lớn dần với những “Mẫu tử tình thâm, công thầy nghĩa mẹ, đừng tiếng tăm nặng lời”; “Phải ăn ở hiền lành, chăm nết na đức hạnh…” Tôi nhớ và thuộc tất cả một cách cảm tính nhưng càng lớn càng thấy thấm thía những gì bà đã dành nuôi dưỡng tâm hồn chúng tôi…

Ngày 8/3, ngày mà chúng ta có dịp để thể hiện lòng biết ơn, sự quan tâm của mình với thế giới phụ nữ, mời bạn viết cho những người phụ nữ mà bạn yêu quý trên Diễn đàn VietNamNet. Chắc chắn họ sẽ rất bất ngờ và cảm động khi nhận được món quà tuyệt vời này của bạn.

Một câu chuyện “tiếu lâm hiện đại” truyền miệng khá lâu trong dân gian. Trong một cơ quan nọ có cuộc họp để kiểm điểm các cán bộ tham nhũng bị phát hiện. Một vị chủ toạ mở đầu bài phát biểu: Kính thưa các đồng chí đã bị lộ và các đồng chí còn chưa bị lộ… Một câu chuyện đầy đủ tính bi, hài trong thời hiện đại. 

Đã có một thời đồng chí với nhau là những người:

         Anh với tôi vốn người xa lạ,

        Từ phương trời chẳng hẹn, quen nhau.

        Súng bên súng, đầu sát bên đầu,

        Đêm rét chung chăn, thành đôi tri kỷ.

        Đồng chí! 

                      (Trích thơ Chính Hữu)

Trong những năm tháng gian nan và hào hùng của 9 năm chống thực dân Pháp và 20 năm giành thống nhất đất nước, hình ảnh những người bộ đội, cán bộ, thanh niên xung phong, dân quân tự vệ v.v… gọi nhau là đồng chí, cùng vào sinh ra tử, cùng nếm mật nằm gai, thật trìu mến thân thương và đầm ấm. 

Từ rất lâu, trong tâm trí thế hệ 6X chúng tôi; danh xưng “đồng chí” vẫn còn được hiểu và sử dụng trong những trường hợp hết sức trân trọng và nghiêm túc, thể hiện sự thân ái, đùm bọc và gắn kết với nhau giữa các thành viên trong tổ chức cùng chí hướng cao cả: cùng lý tưởng độc lập và thống nhất đất nước, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Đồng chí nghĩa theo đúng nghĩa là những người cùng ý chí. Do vậy, thời bấy giờ, mọi người ai cũng có thể gọi nhau là đồng chí. 

Dần dần, khi đất nước đã thống nhất, xã hội có nhiều thành phần kinh tế và xã hội khác nhau, danh xưng “đồng chí” hầu như được thu hẹp dần trong hội họp, trong đảng viên, đoàn viên, lực lượng vũ trang…, mở rộng thêm với hàng ngũ “biên chế nhà nước”. Tiếng gọi “đồng chí” vẫn còn vang lên với niềm tự hào là lực lượng nòng cốt và ưu tú của đất nước, của xã hội mới.

Khi đất nước mở cửa đi vào hội nhập, xã hội có nhiều biến động, thành phần xã hội phân hoá, đa dạng. Từ đó, những danh xưng trân trọng ông, bà, quí vị… được sử dụng thường xuyên. Dù vậy, trong nhiều lứa tuổi, khi nghe hai tiếng đồng chí, họ vẫn tự liên tưởng đến hàng ngũ những người có phẩm chất, lý tưởng tốt đẹp mà nòng cốt là các đảng viên.  

Nhưng cũng vì thế, họ đau xót khi ngày càng nhận ra rằng, từ “đồng chí” đã không được dùng đúng nghĩa của nó trong nhiều trường hợp, nhiều khi nó gây phản cảm. Câu chuyện “tiếu lâm hiện đại” trên kia là một ví dụ khá sâu sắc. 

Đến lúc câu chuyện về các cán bộ đảng viên thoái hoá biến chất trong vụ PMU18 đang được phanh phui thì lại bi hài hơn. Khi vụ việc đã bị lôi ra ánh sáng, thế mà vẫn có người còn khẳng định: “Trong công việc, các đồng chí ấy đều hoàn thành tốt, thái độ, tác phong không thấy có vấn đề gì. Hằng năm, cấp uỷ Đảng nơi các đồng chí ấy sinh hoạt đều có nhận xét tốt, trong kiểm điểm bình xét đều được xếp loại tốt”.

Chưa nói đến những hành vi của những “đồng chí” này đã vi phạm luật pháp, đạo đức xã hội như thế nào, chỉ nghe cách gọi “đồng chí” hùng hồn của ông cán bộ chuyên trách kia ở Bộ GTVT, người ta không khỏi tự hỏi: Ai đang là “đồng chí” của những người đó ?  

Nhiều câu hỏi nhức nhối đặt ra:Trong hàng ngũ những đảng viên hiện nay, còn bao nhiêu người như vậy, những người đã không còn là “đồng chí” của những đảng viên chân chính đúng theo nghĩa của từ này? Trong các cấp uỷ đã và sẽ được các đại hội các cấp từ thấp lên cao bầu ra, bên cạnh nhiều đồng chí đúng nghĩa, còn có bao nhiêu “đồng chí chưa bị lộ”.  

Và làm sao để tất cả mọi đồng chí, mọi cán bộ công bộc của nhân dân đều “bị lộ”, để sáng tỏ chỉ ai mới xứng đáng được gọi bởi danh xưng cao quý đó.  

Chính vì lẽ đó, mọi tầng lớp nhân dân mong muốn: Cả hệ thống đảng và nhà nước tự mình minh bạch và tạo ra các cơ chế để nhân dân có thể tham gia quá trình đó đối với mọi cấp, mọi “công bộc” của nhân dân.  

Mọi người mong muốn: Mỗi cán bộ, đảng viên và công dân nên và phải tự minh bạch trước tổ chức và nhân dân. Hãy tự giác “bị lộ”, đừng để pháp luật, nhân dân, báo chí … phát hiện mới xin tự thú, xin rút lui khỏi danh sách đại biểu, đề cử, ứng cử v.v…  

Và những người dân bình thường như chúng tôi yêu cầu: tất cả cán bộ, tất cả đồng chí đều phải “bị lộ”, để nhân dân có thể chọn cử được những người lãnh đạo xứng đáng, những chủ nhân của đất nước hiểu rõ rằng mình đã chọn đúng mặt để gửi vàng. 

Hãy để cho hai tiếng “đồng chí” sống lại trong ý nghĩa đẹp đẽ, cao cả và thân thiết như đã hằn sâu trong tâm thức của nhiều lớp người, trong đó có thế hệ chúng tôi!

                                                                  

                                                                           Hà Nội, mùa Xuân 2006

Bài đăng trên VietNamNet.vn ngày 21/4/2006

http://vietnamnet.vn/thuhanoi/2006/04/562690/

Soạn: AM 740229 gứ đến 996 để nhẮ ảnh này
Ông Nguyễn Việt Tiến: Tôi muốn đối chất với Bộ trưởng. Ảnh: Thế Vinh

Vụ tiêu cực ở Bộ Giao thông vận tải, mà trực tiếp là Ban Quản lý dự án PMU 18 bị phanh phui, điều mà người dân thấy rõ nhất là thái độ vô trách nhiệm, vô cảm của lãnh đạo Bộ Giao thông Vận tải. Những hành động như đánh bạc hàng triệu đô la mỗi tháng của Bùi Tiến Dũng và đồng bọn, việc mua nhà, mua xe, nuôi bồ,… dần dần “lộ sáng”.

Đồng tiền phục vụ cho những hành động phải gọi đúng tên là “tội ác” ấy được lấy từ đâu? Thiết nghĩ, không cần suy diễn nhiều, người dân cũng hiểu được là từ túi tiền mồ hôi nước mắt của người dân một nắng hai sương. Từ những dự án vay tiền nước ngoài mà con nợ là nhân dân, là đất nước Việt Nam của CHÚNG TA.

Nếu không có trường hợp cá biệt, hầu hết lý lịch của những người này chắc hẳn phải thuộc “thành phần cơ bản”, nghĩa là xuất thân từ tầng lớp cơ bản được Đảng giáo dục và rèn luyện mà trưởng thành. Chắc chắn, gia đình ít khi có những tài sản khổng lồ để lại cho họ mặc sức “đốt”. Và, nếu có thật những đồng tiền để lại từ gia đình, những đồng tiền chắt chiu từ lao động mà có, hẳn không ai đem đi “đốt” một cách vô tội vạ, xót xa như vậy.

Nếu đồng tiền của đất nước, của nhân dân, được giao cho những con người cơ hội, tư lợi, họ có thể lấy của công thành của tư hàng chục tỷ đồng, họ có thể biến cơ quan quản lý đất nước này thành một “cơ quan gia đình” như ông Nguyễn Việt Tiến là một ví dụ. Trong khi ông là Phó ban Thường trực chống tham nhũng của Bộ thì câu chuyện hóa ra chẳng hài hước lắm sao? Câu nói “Gửi trứng cho ác” trong dân gian có nhiều cơ hội minh chứng ở những trường hợp này.

Khi nhận một trọng trách trước đất nước, họ ph ải là người “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở, phải là “đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân”. Một lời nói, một hành động của họ có tác dụng hoặc tác hại rất lớn trong con mắt người dân, những nguời đã tin tưởng ủy thác cho họ. Họ cần có những tư chất của người được ủy thác lòng tin đó là sự trung thực, lòng tự trọng và đối xử có văn hóa. Trong chế độ “phong kiến lạc hậu” xưa, người ta vẫn còn e ngại những hành động của mình phải làm sao để còn “quan trên trông xuống, người ta trông vào”, huống chi xã hội của chúng ta ngày nay đã cách xã hội phong kiến hơn cả nửa thế kỷ.

Bộ trưởng Đào Đình Bình, người được Chính phủ giao trọng trách trước dân, trước đất nước để quản lý một khối lượng tài sản khổng lồ là một ngành được coi là huyết mạch của đất nước. Ở đây, lòng tin của người dân, của nhà nuớc đã đặt đúng chỗ?

Người dân thấy lạ ở chỗ: Khi những thông tin về những vụ tiêu cực ở Bộ Giao thông Vận tải gần đây được đưa ra dư luận, ông Bộ trưởng hầu như đứng ngoài cuộc. Chỉ đến khi ông Nguyễn Việt Tiến nêu đích danh, vạch mặt, chỉ tên ông, ông mới xuất đầu lộ diện để thanh minh, và đẩy quả bóng trở lại cho ông Nguyễn Việt Tiến cũng nhưng các đời bộ trưởng trước đây. Ông muốn trốn tránh trách nhiệm để giữ cái ghế của mình chăng?

Soạn: AM 741113 gứ đến 996 để nhẮ ảnh này
Bộ trưởng Bộ GTVT Đào Đình Bình: Tôi là Ủy viên Trung ương Đảng, thuộc Ban Kiểm tra Trung ương quản lý.

Vậy vai trò của ông Bộ trưởng đương quyền là gì, trách nhiệm của ông ở đâu? Ông có trách nhiệm gì khi những lĩnh vực giao cho ông phụ trách đã xẩy ra những việc tày trời, có thể coi là tội ác trước nhân dân, trước đất nước? Phải chăng, vì ông chưa được dư luận, luật pháp vạch mặt chỉ tên thì ông vẫn “ngậm miệng ăn tiền”? Để rồi như ông Đỗ Văn Thuật khẳng định “Trước khi bị khởi tố, họ đều là đảng viên tốt!”? Một câu nói đầy tính hài hước, là “sự thật” nhưng hết sức đau xót.

Với một con người có lòng tự trọng, nhiều khi một câu nói bóng gió, cũng đủ để họ phải suy nghĩ về mình. Tại sao cần phải để đến khi trực tiếp vạch mặt chỉ tên mới thanh minh? Câu nói của người xưa còn đó: “Quân tử ừ hữ cũng đau, tiểu nhân dùi đục đập đầu như không” phải chăng không đúng nữa? Hay ông cũng chỉ cho mình là một tiểu nhân?

Đạo làm người quân tử với “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” cũng là một tiêu chuẩn cần được tham chiếu cho một người lãnh trọng trách trước đất nước. Vậy ông đã xứng đáng là người “quân tử”?

Khi những người tử nạn trong vụ lật tàu E1 chưa yên dưới mồ, nhiều bệnh nhân đang quằn quại trong đau đớn ở các bệnh viện, thân nhân của họ đang than khóc đớn đau vì những mất mát không có gì bù đắp được, thì ông đi “tắm bùn”, trong khi trách nhiệm của ông là Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia? Khi những vụ tiêu cực luôn là điểm nóng thuộc lĩnh vực ông phụ trách, ông “làm ngơ”? Khi bị nêu đích danh, ông thanh minh và phủ nhận trách nhiệm. Xa hơn nữa là những dự án, những công trình liên tục xuống cấp, tai nạn giao thông nghiêm trọng xảy ra hằng ngày, hằng giờ cướp đi sinh mạng của những người dân, ông vẫn bình chân như vại?

Còn nhớ bên lề một kỳ họp Quốc hội, khi “động” đến những bức xúc trong lĩnh vực do ông phụ trách, ông nói rằng: Nếu chỉ nhìn để phê phán thì ai cũng làm được, nhưng không có ai chỉ ra là phải làm như thế nào(!)  Ô hay, làm như thế nào là việc của ông chứ? sao lại không cho người khác hỏi khi ông không hoàn thành nhiệm vụ? Phải chăng, ông không làm được thì không có ai làm được nên vẫn phải chịu? Thậm chí khi được chất vấn về trách nhiệm của ông trước QH những vấn đề ông phụ trách, ông  đã phải xưng là ủy viên Trung ương Đảng, viện dẫn kết luận của Ban Kiểm tra trung ương để bịt miệng người chất vấn?

Giờ đây, khi những vụ việc đã được đưa ra trước bàn dân thiên hạ, tư cách của ông đến đâu, nhiệm vụ của ông hoàn thành thế nào, trách nhiệm của ông ra sao, hầu như đã được đưa ra ánh sáng. Công luận đã không ít lần nói thẳng, nói thật với ông là nên “Từ chức” – lối thoát may ra còn cứu được một chút liêm sỉ và tự trọng cho bản thân. Nhưng điều lạ hơn nữa là ông vẫn cứ “án binh bất động”? Phải chăng, ông bán nốt chút tự trọng cuối cùng mong chỉ giữ được cái ghế đó? Có những gì ở cái ghế đó nó làm cho ông mụ mẫm luyến tiếc đến vậy khi phải xa nó nếu nó chỉ là trách nhiệm nặng nề?

Những người đặt lòng tin vào ông là Nhân dân đã có ý kiến, nhưng ông bịt tai lại, thì họ có cái quyền của người chủ. Họ cần phải cách chức ông khi ông không đủ đức và tài để hoàn thành nhiệm vụ và nếu như xét thấy có những việc làm ông cấu thành tội ác, cần phải truy tố ông trước pháp luật để ông biết phải chịu trách nhiệm như thế nào với trọng trách của mình được giao phó. Để ông hiểu rằng, luật pháp không là chuyện đùa bất kể họ là ai. Để ông hiểu một điều đơn giản nhất: Con người cần sự trung thực, lòng tự trọng sống có văn hóa và trách nhiệm với xã hội.

Không thể ngồi chờ lòng tự trọng và văn hóa đối với ông khi kêu gọi ông từ chức mà ông vẫn cố thủ ở cái ghế của mình.

H.Vinh (3/4/2006)

THAM NHŨNG: CÁI GIÁ PHẢI TRẢ CHO SỰ THIẾU CÔNG KHAI VÀ MINH BẠCH
10:54′ 17/04/2006 (GMT+7)

“Tại sao một dân tộc anh hùng như VN đã hi sinh đến như thế trong chiến tranh, được tất cả các dân tộc kính nể lại có thể dẫn đến tình trạng tham nhũng nhiều như vậy. Các bạn đã đánh bại những kẻ thù bên ngoài rất mạnh nhưng nay các bạn có đánh bại được kẻ thù tham nhũng này không?”Giáo sư Kasian Tejapera, trường ĐH Thammassat Thái lan- nói trong một cuộc hội thảo.

 

Cuộc chiến chống tham nhũng đã khởi động được một thời gian không còn ngắn. Nhưng dường như, càng “chống” nạn tham nhũng càng tràn lan, từ nặng nề, rồi nghiêm trọng và đã đến mức được coi là “quốc nạn”.

 

Càng phát động “chống”, nạn tham nhũng ngày càng tinh vi hơn và những vụ tham nhũng càng lớn hơn. Bộ trưởng Bộ Tư Pháp Uông Chu Lưu đã phải nhìn nhận: “Tham nhũng diễn ra với tính chất và quy mô ngày càng lớn, phạm vi xảy ra với diện rộng và mang tính tổ chức giữa nhiều cá nhân và đơn vị”.

 

Tham nhũng phần lớn tập trung ở các quan chức Nhà nước.

Tham nhũng đã gây cho đất nước những thảm họa khôn lường. Nguyên khí quốc gia bị xâm hại, lãng phí, tạo ra đầy rẫy những bất công trong xã hội. Mặt khác, tham nhũng góp phần rất lớn trong việc làm đạo đức xã hội ngày càng bị băng hoại. Cái mất quan trọng hơn khó lòng lấy lại được, đó là mất lòng tin vào sự nghiêm minh của luật pháp, vào bộ máy công quyền. Khi lòng tin của nhân dân, những chủ nhân của đất nước với bộ máy quản lý và điều hành đất nước bị mai một, tinh thần đoàn kết không được phát huy, sức mạnh của toàn dân tộc bị suy hao nặng nề là điều không tránh khỏi. Hình ảnh đất nước Việt Nam một thời anh hùng, bị tổn thương không nhỏ trong con mắt bạn bè năm châu, nhất là các tổ chức, các nhà đầu tư quốc tế do nạn tham nhũng hoành hành.

 

Nguyên nhân của nạn tham nhũng đã được mổ xẻ khá nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Ở các phát biểu của các nhà nghiên cứu trong các hội thảo, trong các kiến nghị của người dân, cũng như trong lời nói của những nhà lãnh đạo của Đảng và Nhà nước từ hơn chục năm nay, người ta đã xác định được những nguy cơ từ tham nhũng, những hệ lụy, hậu quả của nó… mà không có mấy ý kiến ngược chiều.

 

Quyết tâm của các nhà lãnh đạo cũng được khẳng định từ khóa này sang khóa khác, từ năm nọ sang năm kia. Với rất nhiều những ngôn từ mạnh mẽ, rất nhiều những câu nói hay ho, nào là tham nhũng là “Quốc nạn” nào là phải coi chống tham nhũng là nhiệm vụ trọng tâm, nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong cuộc chiến chống tham nhũng… Các biện pháp từ nguyên tắc, văn bản pháp luật đến nội dung, phương pháp hành động đã tốn không ít giấy mực, văn bản, báo chí…

 

Nhưng một điều dễ thấy: sự quyết tâm càng cao, thì nạn tham nhũng càng lấn tới? Đó là sự “phi lý có thật” đang xảy ra trên đất nước Việt Nam của chúng ta. Một đất nước vào hạng nghèo đói của thế giới, nhưng được xếp hạng 102/146 nước trong danh sách tham nhũng của Tổ chức Minh bạch Quốc tế và đứng thứ 3 trong các nước tham nhũng nhất châu Á.

 

Chúng ta không khỏi suy nghĩ khi một nhà khoa học Thái Lan – Giáo sư Kasian Tejapera, trường ĐH Thammassat – nói trong một cuộc hội thảo: “Tại sao một dân tộc anh hùng như VN đã hi sinh đến như thế trong chiến tranh, được tất cả các dân tộc kính nể lại có thể dẫn đến tình trạng tham nhũng nhiều như vậy. Các bạn đã đánh bại những kẻ thù bên ngoài rất mạnh nhưng nay các bạn có đánh bại được kẻ thù tham nhũng này không?”

 

Nhìn lại các vụ án tham nhũng, từ nhỏ đến lớn, chúng ta thấy hầu hết, các tội phạm trong các vụ án tham nhũng lớn đều làm người dân giật mình vì những tài sản của mình bị chiếm đoạt mà không hề hay biết. Những Bùi Tiến Dũng, Nguyễn Việt Tiến… đều là quan chức của Đảng, nhà nước, những “đầy tớ trung thành tận tụy” của nhân dân với những mánh khóe, thủ đoạn rút ruột nhà nước, mà thực chất là mồ hôi, nước mắt của nhân dân để dùng hàng triệu đô la nướng vào cờ bạc, nuôi gái… chắc chắn không chỉ xảy ra trong một khoảnh khắc. Một Thứ trưởng Bộ Thương mại Mai Văn Dâu nhận hối lộ mua bán quota qua một quá trình không ngắn. Một Lã Thị Kim Oanh làm thất thoát hàng chục tỉ đồng, những vụ án là thất thoát thậm chí hàng ngàn tỉ đồng của Nhà nước… Một “siêu lừa Nguyễn Đức Chi” đã khá “thành công” trong vụ lừa đảo mà hệ lụy cuả nó không hề nhỏ. Xa hơn một chút, những Epco – Minh Phụng, những Tân Trường Sanh, những vụ Dầu Khí, Thủy cung Thăng Long… đã diễn ra lặng lẽ mà không phải chỉ trong ngày một ngày hai.

 

Chúng ta thường thấy, các cơ quan chức năng “dễ dàng” bị lừa bởi những công ty ma, những dự án ảo, những chủ đầu tư rởm… Đến khi sự việc gây hậu quả nghiêm trọng thì mới biết rằng đã giao những dự án béo bở cho những người không một xu dính túi, đã bổ nhiệm những cán bộ không có năng lực và phẩm chất cần thiết. Thậm chí, khi được ánh sáng công luận, pháp luật rọi tới, nhiều kẻ là những thành phần bất hảo trong xã hội được đề bạt giữ những trọng trách lớn. Có những tiến sĩ xài bằng giả, ăn cắp bản quyền, đạo văn, đạo công trình khoa học trong một thời gian dài nhưng đã không bị phát hiện. Có nhiều người khi bị vỡ lỡ những cuộc lừa đảo mới biết rằng, để được làm thân phận là thuê xứ người đã tốn không biết bao nhiêu tiền của cho những tay cò mồi, những tổ chức lừa đảo. Chuyện hậu quả, những bất ngờ của nhân dân, của các cơ quan công quyền, trong những vụ việc tham nhũng, tiêu cực là chuyện dài tập, nhiều kỳ.

 

Những công trình giao thông như thế này sẽ được dân giám sát chặt hơn.

Một trong những nguyên nhân để căn bệnh tham nhũng hoành hành hiện nay, đó là tính công khai và minh bạch đã không được coi trọng. Sự giám sát của người dân, những chủ nhân thật sự của đất nước này đã không được thực sự phát huy. Tiêu chí dân chủ đã bị coi nhẹ. Mặc dù điều này không còn mới, xem ra việc thực hiện không đến nỗi khó khăn như người ta tưởng hoặc cố tưởng tượng ra để bỏ qua. Trên thực tế, điều này đã không được thực hiện hoặc có thực hiện cũng chỉ là nửa vời.

 

“Cuộc chiến chống tham nhũng chỉ hiệu quả khi tất cả các cơ quan, ban ngành vào cuộc. Nhiều cán bộ hô chống tham nhũng nhưng hãy xem lại ngay tại đơn vị mình đã dám đấu tranh với tệ nạn này chưa?” – Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng từng nói như vậy trước giới báo chí. Nhưng tiếc thay, sau đó không lâu, chính tại cơ quan của Chính phủ, mấy quan chức của Thanh tra nhà nước bị bắt vì… tham nhũng. Thứ trưởng Bộ GTVT, người đã đi lên từ PMU 18, hiện đang là một “ổ” tham nhũng mà người cầm đầu là Bùi Tiến Dũng và ông Thứ trưởng đã bị bắt….. Ông đang là đầu mối quan tâm của dư luận nhân dân về những tài sản, những mối quan hệ gia đình trị ở đó.

 

 Thì ông lại là nguời vừa chủ trì hội nghị tập huấn cho các cán bộ chủ chốt thuộc bộ phận triển khai Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí và Luật phòng chống tham nhũng, chỉ 3 ngày trước khi bị cơ quan pháp luật triệu tập? Đó chính Trưởng và Phó ban Chống tham nhũng của Bộ Giao thông Vận tải, một ngành quan trọng là huyết mạch của đất nước…

 

Chính những người đi chống tham nhũng lại là những kẻ tham nhũng. Chính những người rao giảng đạo đức về thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng lãng phí, lại là những người rút ruột nhà nước hàng tỉ đồng để nuôi gái, ăn nhậu. Chuyện chống “Quốc nạn” trở thành hài hước.

 

Từ những năm đầu đổi mới, câu nói: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã thực sự khơi dậy được tính minh bạch và công khai, phát huy được tác dụng không nhỏ của nó. Nhưng tiếc thay, công năng của nó đã không được tiếp sức để nó phát huy mà đã nhanh chóng không được người ta nhắc đến nữa.

 

Một dự án rất khó có thể móc ngoặc đùn cho các “sân sau”, nếu tất cả được minh bạch về hồ sơ, về các yêu cầu và qui mô gói thầu, về những nhà thầu tham gia với đầy đủ hồ sơ năng lực của họ. Nếu có những khuất tất, chắc chắn sẽ có nhân dân, những người giám sát phản hồi nhanh chóng.

 

Một bộ máy nhà nước địa phương đến trung ương rất khó có thể trở thành “vườn trẻ”, nếu qui trình chọn lựa cán bộ được công khai với những tiêu chí cần thiết cho những công việc cụ thể, những ứng cử viên với đầy đủ hồ sơ về năng lực, kinh nghiệm, bằng cấp… Nếu sự lựa chọn không công bằng, không chính xác, chắc chắn sẽ có những phản hồi của cán bộ Công nhân viên của cơ quan đó.

 

Một thị trường thuốc không thể lên đến giá cắt cổ người bệnh, những chủ nhân đất nước đến khốn cùng trong ốm đau bệnh tật, nếu giá thuốc và những phương thức, những nhà cung cấp thuốc được minh bạch và lành mạnh trong kinh doanh.

 

Một cán bộ lãnh đạo của dân, ắt sẽ khó có khả năng móc ruột ngân sách, giấu giếm, tẩu tán tài sản của mình bằng những chiêu rửa tiền, khó có thể sử dụng bằng cấp giả để leo lên, nếu tất cả tài sản, quan hệ, trình độ, bằng cấp của anh được công khai, minh bạch cho nhân dân, những người bầu ra mình được biết và có thể kiểm tra bất cứ lúc nào.

 

Những sai phạm khó có thể tiếp tục, nếu những phản ánh của công luận, của báo chí và nhân dân được công khai xử lý nghiêm minh, với phương châm “Quân pháp bất vị thân” chắc chắn sẽ có tác dụng tăng cường lòng tin và có tác dụng răn đe mạnh mẽ…

 

Không nên chờ đến khi bị dư luận áp lực, bị pháp luật sờ gáy lôi ra ánh sáng thì mới ngã ngửa than rằng: “Trước khi bị khởi tố, họ đều là Đảng viên tốt!”?

 

Tất nhiên, vấn đề đi kèm theo việc phát hiện tham nhũng, là các biện pháp xử lý và ngăn chặn tham nhũng một cách kiên quyết và triệt để. Không thể chống tham nhũng khi có những vùng cấm trong việc chống tham nhũng. Mọi người dù là ai, ở cương vị nào cần được đối xử công bằng trước Pháp luật. Không cần thiết phải đưa vào diện “Xử lý nội bộ” dưới chiêu bài “Ổn định lòng dân, ổn định tình hình”. Tất cả những việc đó không được xử lý đúng mức đều thể hiện sự không quang minh, chính đại của những người đi chống tham nhũng và những kẻ tham nhũng.

 

Rất nhiều những ví dụ khác nữa, để có thể chứng minh rằng: Sự công khai, minh bạch góp phần không nhỏ cho công cuộc chống tham nhũng, làm ngược điều đó, nó ắt sẽ có tác dụng ngược lại. Những vụ án tham nhũng lớn đã qua, đã cho thấy cái giá phải trả là không nhỏ cho việc thiếu tính minh bạch và công khai trong xã hội.

 

Nhân dân là tai mắt của nhà nước, họ là người chủ thật sự của xã hội, hãy trả lại đúng vị trí đó cho nhân dân. Người chủ có quyền biết được, những đầy tớ của mình làm gì, thân nhân của họ ra sao? Điều đó gần như là sự tất nhiên, nhưng thực tế thì không phải như thế.

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” “Dân chủ, nghĩa là để cho người dân được mở mồm ra nói”. Tại sao, khi “quốc nạn” xảy đến, Đảng và Nhà nước hô hào toàn dân “chống” thì việc cung cấp vũ khí cho nhân dân là sự công khai, minh bạch lại không thể thực hiện?

 

Tại sao người ta sợ sự minh bạch và công khai đến thế? Thói thường, chỉ những kẻ nào lương tâm không trong sáng, tự thấy bản thân mình không “sạch” mới phải che đậy sự thật của mình. Một người đàng hoàng, không có gì phải e ngại khi để cho người khác, nhất là những “ông chủ” hiểu rõ về mình. Một ông bố, bà mẹ không gương mẫu, không dám để con cái mình biết những việc mình làm. Một đứa con có những hành vi mờ ám, mới không dám để bố mẹ, anh em và những người khác biết những hành vi của mình. Ngoài ra, có gì cần phải bí mật, giấu giếm.

 

Người dân có quyền được biết những kẻ thay mặt mình quản lý tài sản, nắm vận mệnh của mình, của tổ chức xã hội, của đất nước thay mình là ai. Họ có đủ đức, đủ tài để đảm nhận những trọng trách đó không? Đó là điều gần như không có gì phải bàn cãi. Không ai yên tâm khi giao tài sản, tính mạng của mình cho những kẻ mình chưa biết họ là ai.

 

Cũng không nên nghĩ rằng: Trình độ dân trí có hạn, biết nhiều sẽ không có lợi (?). hoặc “Công khai không có nghĩa là dán tất cả lên tường”? Theo tôi, đó chỉ là một sự ngụy biện không đủ sức thuyết phục để che đậy những việc làm không đàng hoàng của những kẻ có tà tâm. Người dân có đủ nhận thức để tin theo Đảng, theo Nhà nước mà trực tiếp là các cán bộ khi họ biết rõ rằng, đó thật sự là những người vì nước nhân dân phục vụ. Những năm tháng hào hùng của thời Thống nhất đất nước là một minh chứng hùng hồn. Ngược lại, dù có trăm ngàn những lời hứa, những câu hoa mỹ, những khẩu hiệu vang trời, nhưng bản thân người cán bộ không gương mẫu, người dân vẫn quay mặt đi. Hiện tượng “trên bảo dưới không nghe” hiện tượng coi thường luật pháp, có nguyên nhân sâu xa từ những tấm gương đó.

 

Để góp phần có hiệu quả cho việc ngăn chặn và đầy lùi “quốc nạn” tham nhũng, sự công khai và minh bạch là điều không thể thiếu. Để những lời hô hào chống tham nhũng, những kế hoạch hành động có thể được thực hiện, cũng không ai khác, ngoài những người có trọng trách được giao cho nhiệm vụ nặng nề này phải là những người gương mẫu nhất. Trước hết, những người có cương vị và trách nhiệm cao nhất từ Tổng Bí thư, Thủ tướng chính phủ, Chủ tịch nước… đến các Bộ trưởng, Thứ trưởng,  các cán bộ cao nhất cần gương mẫu nhất về sự minh bạch và công khai của mình. Và sau đó, đương nhiên phải là những người được giao các trách nhiệm khác ở mọi cấp, mọi ngành của guồng máy Đảng và Nhà nước mà không cần phải kêu là khó khăn.

 

Nói cách khác, khi đã chấp nhận vào cương vị là người phục vụ, cần biết chấp nhận sự giám sát quản lý của người được phục vụ là nhân dân, như vậy mới có thể tạo lòng tin nơi họ. Nhân dân sẽ đồng hành với họ trên những chặng đường dù gai góc và gian khổ nhất, nhiều hi sinh nhất. Ngược lại, dù những lời hoa mỹ tốt đẹp đến mấy, nhân dân cũng không thể toàn tâm, toàn ý để đi theo những lời tốt đẹp và những tấm gương xấu xa. Sự giám sát của Nhân dân là điều cần thiết và hết sức cần thiết.

 

Nếu làm được như vậy, lòng tin của nhân dân ngày càng được củng cố. Tính tự giác thực thi pháp luật, giám sát cơ quan công quyền được phát huy, sẽ có tác dụng tích cực trong mọi tầng lớp, mọi hoạt động xã hội. “Quốc nạn” tham nhũng chắc chắn sẽ bị mất một môi trường nuôi dưỡng và phát triển như hiện nay.

 

Chỉ có những con người công chính mới xứng đáng làm những việc công chính. Đất nước này không thiếu những người tài đức, không sợ thiếu những cán bộ lãnh đạo đủ tài, đủ tâm huyết, nhân dân có đầy đủ khả năng để biết chọn ai đại diện cho mình, nếu tất cả được đàng hoàng lựa chọn.

H.Vinh

Bài đăng trên VietNamNet 22:51′ 02/04/2006 (GMT+7)

http://www.vnn.vn/bandocviet/2006/04/556273/

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.